Bộ Phân Tích – Uẩn Phân Tích

NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA.

Cung kỉnh ÐỨC THẾ TÔN – BẬC ỨNG CÚNG – ÐẤNG CHÁNH ÐẲNG GIÁC.

 -ooOoo-

UẨN PHÂN TÍCH (KHANDHAVIBHAṄGO)

PHÂN TÍCH THEO KINH (SUTTANTABHĀJANĪYA).

[1] Ngũ uẩn là sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn.

SẮC UẨN (Rūpakhandho)

[2] Ở ÐÂY THẾ NÀO LÀ SẮC UẨN [1]?

Bất cứ sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại; bên trong hoặc bên ngoài, thô hoặc tế, xấu hoặc tốt, hay là sắc nào xa gần mà gồm chung, tổng kết lại. Ðây gọi là sắc uẩn.

[3] Ở ÐÂY SẮC QUÁ KHỨ[2] LÀ THẾ NÀO?

Sắc nào đã qua, đã tiêu diệt, đã lìa mất, đã biến chuyển, đã biến diệt, đã biến hoạt, đã sanh rồi diệt, đã vượt khỏi, gom lại thành phần quá khứ; tức là bốn đại hiển và sắc nương bốn đại hiển. Ðây gọi là sắc quá khứ.

Ở ÐÂY SẮC VỊ LAI[3] LÀ THẾ NÀO?

Sắc nào chưa sanh, chưa có, chưa thành, chưa xuất hiện, chưa khởi phát, chưa hiện khởi, chưa sanh khởi, chưa tương sanh, chưa khởi dậy, chưa ứng khởi, chưa xẩy đến, gom lại thành phần vị lai; tức là bốn đại hiển và sắc nương bốn đại hiển. Dây gọi là sắc vị lai.

Ở ÐÂY SẮC HIỆN TẠI[4] LÀ THẾ NÀO?

Sắc nào đang sanh, đang có, đang thành, đang xuất hiện, đang phát khởi, đang sanh khởi, đang tương sanh, đang dậy khởi, đang ứng khởi, đang sanh tồn, gom lại thành phần hiện tại; tức là bốn đại hiển. Ðây gọi là sắc hiện tại.

[4] Ở ÐÂY SẮC BÊN TRONG[5] THẾ NÀO?

Sắc nào thuộc bên trong của mỗi chúng sanh, thuộc phần riêng, thuộc tư hữu, thuộc cá nhân, thành do thủ; tức là bốn đại hiển và sắc nương bốn đại hiển, đây gọi là sắc bên trong.

Ở ÐÂY SẮC BÊN NGOÀI[6] LÀ THẾ NÀO?

Sắc nào thuộc bên trong của các chúng sanh khác, nhân vật khác, thuộc phần riêng, thuộc tư hữu, thuộc cá nhân, thành do thủ tức là bốn đại hiển, và sắc nương, bốn đại hiển. Ðây gọi là sắc bên ngoài.

[5] Ở ÐÂY SẮC THÔ[7] LÀ THẾ NÀO?

Tức nhãn xứ..(trùng).. xúc xứ. Ðây gọi là sắc thô.

Ở ÐÂY SẮC TẾ[8] LÀ THẾ NÀO?

Tức nữ quyền..(trùng)..đoàn thực. Ðây gọi là sắc tế.

[6] Ở ÐÂY SẮC XẤU[9] LÀ THẾ NÀO?

Sắc nào đối với các chúng sanh, bị khinh thường, khinh khi, khinh bỉ, khinh miệt, không ái mộ, xấu xa, biết là xấu xa, cho là xấu xa, không đáng ưa chuộng, không đáng ham thích, không đáng vừa lòng, như sắc, thinh, khí, vị, xúc. Ðây gọi là sắc xấu.

Ở ÐÂY SẮC TỐT[10] LÀ THẾ NÀO?

Sắc nào đối với các chúng sanh, không bị khinh thường, không bị khinh khi, không bị khinh bỉ, không bị khinh miệt, được ái mộ, tốt đẹp, biết là tốt đẹp, cho là tốt đẹp, đáng ưa chuộng, đáng ham thích, đáng vừa lòng, như sắc, thinh, khí, vị, xúc. Ðây gọi là sắc tốt.

Hoặc do so sánh sắc nầy với sắc kia nên được nhận là sắc xấu sắc tốt.

[7] Ở ÐÂY SẮC XA[11] LÀ THẾ NÀO

Tức nữ quyền… (trùng)… đoàn thực; hoặc giả có thứ sắc nào khác không cận kề, không tiếp giáp, ở xa, không gần. Ðây gọi là sắc xa.

Ở ÐÂY SẮC GẦN[12] LÀ THẾ NÀO?

Tức là nhãn xứ..(trùng).. xúc xứ; hoặc giả có sắc nào khác cận kề, tiếp giáp, ở gần, không xa. Ðây gọi là sắc gần.

Hoặc do so sánh sắc nầy sắc kia, nên được nhận là sắc xa sắc gần.

THỌ UẨN (Vedanākhandho)

[8] Ở ÐÂY THẾ NÀO LÀ THỌ UẨN?

Bất cứ tưởng gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, bên trong hoặc bên ngoài, thô hoặc tế, xấu hoặc tốt, hay là thọ nào xa, gần, mà gồm chung, tổng kết lại. Ðây gọi là thọ uẩn.

[9] Ở ÐÂY, THỌ QUÁ KHỨ[13] LÀ THẾ NÀO?

Thọ nào đã qua, đã tiêu diệt, đã lìa mất, đã biến chuyển, đã biến diệt, đã biến hoại, đã sanh rồi diệt, đã vượt khỏi, gom lại thành phần quá khứ, tức là thọ lạc, thọ khổ, thọ phi khổ phi lạc. Ðây gọi là thọ quá khứ.

Ở ÐÂY THỌ VỊ LAI[14] LÀ THẾ NÀO?

Thọ nào chưa sanh, chưa có, chưa thành, chưa xuất hiện, chưa khởi phát, chưa hiện khởi, chưa sanh khởi, chưa tương sanh, chưa dậy khởi, chưa ứng khởi, chưa xẩy đến, gom lại thành phần vị lai, tức là thọ lạc, thọ khổ, thọ phi khổ phi lạc. Ðây gọi là thọ vị lai.

Ở ÐÂY, THỌ HIỆN TẠI LÀ THẾ NÀO[15]?

Thọ nào đang sanh, đang có, đang thành, đang xuất hiện, đang phát khởi, đang sanh khởi, đang tương sanh, đang dậy khởi, đang ứng khởi, đang sanh tồn, gom lại thành phần hiện tại; tức là thọ lạc, thọ khổ, thọ phi khổ phi lạc. Ðây gọi là thọ hiện tại.

[10] Ở ÐÂY THỌ BÊN TRONG[16] LÀ THẾ NÀO?

Thọ nào thuộc bên trong của mỗi chúng sanh, thuộc phần riêng, thuộc tư hữu, thuộc cá nhân, thành do thủ; tức là thọ lạc, thọ khổ, thọ phi khổ phi lạc. đây gọi là thọ bên trong.

Ở ÐÂY THỌ BÊN NGOÀI[17] LÀ THẾ NÀO?

Thọ nào thuộc bên trong của các chúng sanh khác, nhân vật khác, thuộc phần riêng, thuộc tư hữu, thuộc cá nhân, thành do thủ tức là thọ lạc, thọ khổ, thọ phi khổ phi lạc. Ðây gọi là thọ bên ngoài.

[11] Ở ÐÂY THỌ THÔ THỌ TẾ[18] LÀ THẾ NÀO?

Thọ bất thiện là thọ thô, thọ thiện và vô ký là tế; thọ thiện và bất thiện là thô, thọ vô ký là tế; thọ khổ là thô, thọ lạc và thọ phi khổ lạc là tế; thọ khổ và thọ lạc là thô, thọ phi khổ phi lạc là tế; thọ của người không nhập thiền là thô, thọ của người nhập thiền là tế; thọ cảnh lậu là thô, thọ phi cảnh lậu là tế; hoặc so sánh thọ nầy thọ kia nên được nhận là thọ thô thọ tế.

[12] Ở ÐÂY, THỌ XẤU THỌ TỐT[19] LÀ THẾ NÀO?

Thọ bất thiện là xấu, thọ thiện và vô ký là tốt; thọ thiện và bất thiện là xấu, thọ vô ký là tốt; thọ khổ là xấu, thọ lạc và thọ phi khổ phi lạc là tốt; thọ lạc và thọ khổ là xấu, thọ phi khổ phi lạc là tốt; thọ của người không nhập thiền là xấu, thọ của người nhập thiền là tốt; thọ cảnh lậu là xấu, thọ phi cảnh lậu là tốt; hoặc so sánh thọ nầy thọ kia nên được nhận là thọ xấu thọ tốt.

[13] Ở ÐÂY THỌ XA LÀ THẾ NÀO[20]?

Thọ bất thiện xa với thọ thiện và vô ký; thọ thiện và vô ký xa với thọ thiện; Thọ thiện xa với thọ bất thiện và vô ký; thọ bất thiện và vô ký xa với thọ thiện; thọ vô ký xa với thọ thiện và bất thiện; thọ thiện và bất thiện xa với thọ vô ký; thọ khổ xa với thọ lạc và phi khổ phi lạc; thọ lạc và phi khổ phi lạc xa với thọ khổ; thọ lạc xa với thọ khổ và phi khổ phi lạc; thọ khổ và phi khổ phi lạc xa với thọ lạc; thọ phi khổ phi lạc xa với thọ lạc và thọ khổ; thọ lạc và thọ khổ xa với thọ phi khổ phi lạc; thọ của người không nhập thiền xa với thọ của người nhập thiền, thọ của người nhập thiền xa với thọ của người không nhập thiền, thọ cảnh lậu xa với thọ phi cảnh lậu; thọ phi cảnh lậu xa với thọ cảnh lậu. Ðây được gọi là thọ xa.

Ở ÐÂY, THỌ GẦN[21] LÀ THẾ NÀO?

Thọ bất thiện gần với thọ bất thiện; Thọ thiện gần với thọ thiện; thọ vô ký gần với thọ vô ký; thọ khổ gần với thọ khổ; thọ lạc gần với thọ lạc; thọ phi khổ phi lạc gần với thọ phi khổ phi lạc, thọ của người không nhập thiền gần với thọ của người không nhập thiền, thọ của người nhập thiền gần với thọ của người nhập thiền, thọ cảnh lậu gần với thọ cảnh lậu; thọ phi cảnh lậu gần với thọ phi cảnh lậu. Ðây gọi là thọ gần.

Hoặc so sánh thọ nầy với thọ kia, nên được gọi là thọ xa thọ gần.

TƯỞNG UẨN (Saññakkhandho)

[14] Ở ÐÂY THẾ NÀO LÀ TƯỞNG UẨN?

Bất cứ tưởng gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, bên trong hoặc bên ngoài, thô hoặc tế, xấu hoặc tốt, hay là tưởng nào xa, gần, mà gom chung, tóm lại thành một nhóm. Ðây gọi là tưởngï uẩn.

[15] Ở ÐÂY, TƯỞNG QUÁ KHỨ[22] LÀ THẾ NÀO?

Tưởng nào đã qua, đã tiêu diệt, đã lìa mất, đã biến chuyển, đã biên diệt, đã biến hoại, đã sanh rồi diệt, đã vượt khỏi, gom lại thành phần quá khứ, tức là tưởng sanh từ nhãn xúc, tưởng sanh từ nhĩ xúc, tưởng sanh từ tỷ xúc, tưởng sanh từ thiệt xúc, tưởng sanh từ thân xúc, tưởng sanh từ ý xúc. Ðây gọi là tưởng quá khứ.

Ở ÐÂY TƯỞNG VỊ LAI[23] LÀ THẾ NÀO?

Tưởng nào chưa sanh, chưa có, chưa thành, chưa xuất hiện, chưa phát khởi, chưa hiện khởi, chưa sanh khởi, chưa tương sanh, chưa dậy khởi, chưa ứng khởi, chưa xẩy đến, gom lại thành phần vị lai, tức là tưởng sanh từ nhãn xúc… (trùng)… tưởng sanh từ ý xúc. Ðây gọi là tưởng vị lai.

Ở ÐÂY, TƯỞNG HIỆN TẠI[24] LÀ THẾ NÀO?

Tưởng nào đang sanh, đang có, đang thành, đang xuất hiện, đang phát khởi, đang hiện khởi, đang sanh khởi, đang tương sanh, đang dậy khởi, đang ứng khởi, đang sanh tồn, gom lại thành phần hiện tại; tức là tưởng sanh từ nhãn xúc… (trùng)… tưởng sanh từ ý xúc. Ðây gọi là tưởng hiện tại.

[16] Ở ÐÂY, TƯỞNG BÊN TRONG[25] LÀ THẾ NÀO?

Tưởng nào thuộc bên trong của mỗi chúng sanh, thuộc phần riêng, thuộc tư hữu, thuộc cá nhân, thành do thủ; tức là tưởng sanh từ nhãn xúc… (trùng)… tưởng sanh từ ý xúc. Ðây gọi là tưởng bên trong.

Ở ÐÂY, TƯỞNG BÊN NGOÀI[26] LÀ THẾ NÀO?

Tưởng nào thuộc bên trong của các chúng sanh khác, nhân vật khác, thuộc phần riêng, thuộc tư hữu, thuộc cá nhân, thành do thủ tức là tưởng sanh từ nhãn xúc… (trùng)… tưởng sanh từ ý xúc. Ðây gọi là tưởng bên ngoài.

[17] Ở ÐÂY, TƯỞNG THÔ TƯỞNG TẾ[27] LÀ THẾ NÀO?

Tưởng sanh từ xúc đối chiếu là thô, tưởng sanh từ xúc định danh là tế; Tưởng  bất thiện là thô, tưởng thiện và vô ký là tế; tưởng thiện và bất thiện là thô, tưởng vô ký là tế; tưởng tương ưng thọ khổ là thô, tưởng tương ưng thọ lạc và phi khổ phi lạc là tế; tưởng tương ưng lạc và khổ là thô, tưởng tương ưng phi khổ phi lạc là tế; tưởng của người không nhập thiền là thô, tưởng của người nhập thiền là tế; tưởng cảnh lậu là thô, tưởng phi cảnh lậu là tế; hoặc so sánh tưởng nầy tưởng kia nên được nhận là tưởng thô tưởng tế.

[18] Ở ÐÂY, TƯỞNG XẤU TƯỞNG TỐT[28] LÀ THẾ NÀO?

Tưởng bất thiện là xấu, tưởng thiện và vô ký là tốt; tưởng thiện và bất thiện là xấu, tưởng vô ký là tốt; tưởng tương ưng thọ khổ là xấu, tưởng tương ưng thọ lạc và phi khổ phi lạc là tốt; tưởng tương ưng thọ lạc và khổ là xấu, tưởng tương ưng thọ phi khổ phi lạc là tốt; tưởng của người không nhập thiền là xấu, tưởng của người nhập thiền là tốt; tưởng cảnh lậu là xấu, tưởng phi cảnh lậu là tốt; hoặc do so sánh tưởng nầy tưởng kia nên được nhận là tưởng xấu tưởng tốt.

[19] Ở ÐÂY TƯỞNG XA[29] LÀ THẾ NÀO?

Tưởng bất thiện xa với tưởng thiện và vô ký; tưởng thiện và vô ký xa với tưởng bất thiện; Tưởng thiện xa với tưởng bất thiện và vô ký; tưởng bất thiện và vô ký xa với tưởng thiện; tưởng vô ký xa với tưởng thiện và bất thiện; tưởng thiện và bất thiện xa với tưởng vô ký; tưởng tương ưng thọ khổ xa với tưởng tương ưng thọ lạc và phi khổ phi lạc; tưởng tương ưng thọ lạc và phi khổ phi lạc xa với tưởng tương ưng thọ khổ; tưởng tương ưng thọ lạc xa với tưởng tương ưng thọ khổ và phi khổ phi lạc; tưởng tương ưng thọ khổ và phi khổ phi lạc xa với tưởng tương ưng thọ lạc; tưởng tương ưng thọ phi khổ phi lạc xa với tưởng tương ưng thọ lạc và khổ; tưởng tương ưng thọ lạc và khổ xa với tưởng tương ưng thọ phi khổ phi lạc; tưởng của người không nhập thiền xa với tưởng của người nhập thiền, tưởng của người nhập thiền xa với tưởng của người không nhập thiền, tưởng cảnh lậu xa với tưởng phi cảnh lậu; tưởng phi cảnh lậu xa với tưởng cảnh lậu. Ðây được gọi là tưởng xa.

Ở ÐÂY, TƯỞNG GẦN[30] LÀ THẾ NÀO?

Tưởng bất thiện gần với tưởng bất thiện; Tưởng thiện gần với tưởng thiện; tưởngï vô ký gần với tưởng vô ký; tưởng tương ưng thọ khổ gần với tưởng tương ưng thọ khổ; tưởng tương ưng thọ lạc gần với tưởng tương ưng thọ lạc; tưởng tương ưng thọ phi khổ phi lạc gần với tưởng tương ưng thọ phi khổ phi lạc, tưởng của người không nhập thiền gần với tưởng của người không nhập thiền, tưởng của người nhập thiền gần với tưởng của người nhập thiền, tưởng cảnh lậu gần với tưởng cảnh lậu; tưởng phi cảnh lậu gần với tưởng phi cảnh lậu. Ðây gọi là tưởng gần.

Hoặc do so sánh tưởng nầy với tưởng kia, nên được gọi là tưởng xa tưởng gần.

HÀNH UẨN (Sankhārakkhandho)

[20] Ở ÐÂY THẾ NÀO LÀ HÀNH UẨN?

Bất cứ hành gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, bên trong hoặc bên ngoài, thô hoặc tế, xấu hoặc tốt, hay là hành nào xa, gần, mà gom chung, tóm lại thành một nhóm. Ðây gọi là hành uẩn.

[21] Ở ÐÂY, HÀNH QUÁ KHỨ[31] LÀ THẾ NÀO?

Hành nào đã qua, đã tiêu diệt, đã lìa mất, đã biến chuyển, đã biên diệt, đã biến hoại, đã sanh rồi diệt, đã vượt khỏi, gom lại thành phần quá khứ, tức là tư sanh từ nhãn xúc, tư sanh từ nhĩ xúc, tư sanh từ tỷ xúc, tư sanh từ thiệt xúc, tư sanh từ thân xúc, tư sanh từ ý xúc. Ðây gọi là hành quá khứ.

Ở ÐÂY HÀNH VỊ LAI[32] LÀ THẾ NÀO?

Hành nào chưa sanh, chưa có, chưa thành, chưa xuất hiện, chưa phát khởi, chưa hiện khởi, chưa sanh khởi, chưa tương sanh, chưa dậy khởi, chưa ứng khởi, chưa xẩy đến, gom lại thành phần vị lai, tức là tư sanh từ nhãn xúc… (trùng)… tư sanh từ ý xúc. Ðây gọi là hành vị lai.

Ở ÐÂY, HÀNH HIỆN TẠI[33] LÀ THẾ NÀO?

Hành nào đang sanh, đang có, đang thành, đang xuất hiện, đang phát khởi, đang sanh khởi, đang hiện khởi, đang tương sanh, đang dậy khởi, đang ứng khởi, đang sanh tồn, gom lại thành phần hiện tại; tức là tư sanh từ nhãn xúc… (trùng)… tư sanh từ ý xúc. Ðây gọi là hành hiện tại.

[22] Ở ÐÂY HÀNH BÊN TRONG[34] LÀ THẾ NÀO?

Hành nào thuộc bên trong của mỗi chúng sanh, thuộc phần riêng, thuộc tư hữu, thuộc cá nhân, thành do thủ; tức là tư sanh từ nhãn xúc… (trùng)… tư sanh từ ý xúc. Ðây gọi là hành bên trong.

Ở ÐÂY HÀNH BÊN NGOÀI[35] LÀ THẾ NÀO?

Hành nào thuộc bên trong của các chúng sanh khác, nhân vật khác, thuộc phần riêng, thuộc tư hữu, thuộc cá nhân, thành do thủ tức là tư sanh từ nhãn xúc… (trùng)… tư sanh từ ý xúc. Ðây gọi là hành bên ngoài.

[23] Ở ÐÂY HÀNH  THÔ HÀNH  TẾ[36] LÀ THẾ NÀO?

Hành bất thiện là thô, hành thiện và vô ký là tế; hành thiện và bất thiện là thô, hành vô ký là tế; hành tương ưng thọ khổ là thô, hành tương ưng thọ lạc và phi khổ lạc là tế; hành tương ưng thọ lạc và khổ là thô, hành tương ưng thọ phi khổ phi lạc là tế; hành của người không nhập thiền là thô, hành của người nhập thiền là tế; hành cảnh lậu là thô, hành phi cảnh lậu là tế; hoặc so sánh hành nầy hành kia nên được nhận là hành thô hành tế.

[24] Ở ÐÂY, HÀNH XẤU HÀNH  TỐT[37] LÀ THẾ NÀO?

Hành bất thiện là xấu, hành thiện và vô ký là tốt; hành thiện và bất thiện là xấu, hành vô ký là tốt; hành tương ưng thọ khổ là xấu, hành tương ưng thọ lạc và phi khổ phi lạc là tốt; hành tương ưng thọ lạc và khổ là xấu, hành tương ưng thọ phi khổ phi lạc là tốt; hành của người không nhập thiền là xấu, hành của người nhập thiền là tốt; hành cảnh lậu là xấu, hành phi cảnh lậu là tốt; hoặc do so sánh hành nầy hành kia mà được nhận là hành xấu hành tốt.

[25] Ở ÐÂY HÀNH  XA[38] LÀ THẾ NÀO?

Hành bất thiện xa với hành thiện và vô ký; hành thiện và vô ký xa với hành bất thiện; hành thiện xa với hành bất thiện và vô ký; hành bất thiện và vô ký xa với hành thiện; hành vô ký xa với hành thiện và bất thiện; hành thiện và bất thiện xa với hành vô ký; hành tương ưng thọ khổ xa với hành tương ưng thọ lạc và phi khổ phi lạc; hành tương ưng thọ lạc và phi khổ phi lạc xa với hành tương ưng thọ khổ; hành tương ưng thọ lạc xa với hành tương ưng thọ khổ và phi khổ phi lạc; hành tương ưng thọ khổ và phi khổ phi lạc xa với hành tương ưng thọ lạc; hành tương ưng thọ phi khổ phi lạc xa với hành tương ưng thọ lạc và khổ; hành tương ưng thọ lạc và khổ xa với hành tương ưng thọ phi khổ phi lạc; hành của người không nhập thiền xa với hành của người nhập thiền, hành của người nhập thiền xa với hành của người không nhập thiền, hành cảnh lậu xa với hành phi cảnh lậu; hành phi cảnh lậu xa với hành cảnh lậu. Ðây được gọi là hành xa.

Ở ÐÂY, HÀNH GẦN[39] LÀ THẾ NÀO?

Hành bất thiện gần với hành bất thiện; Hành thiện gần với hành thiện; hành vô ký gần với hành vô ký; hành tương ưng thọ khổ gần với hành tương ưng thọ khổ; hành tương ưng thọ lạc gần với hành tương ưng thọ lạc; hành tương ưng thọ phi khổ phi lạc gần với hành tương ưng thọ phi khổ phi lạc, hành của người không nhập thiền gần với hành của người không nhập thiền, hành của người nhập thiền gần với hành của người nhập thiền, hành cảnh lậu gần với hành cảnh lậu; hành phi cảnh lậu gần với hành phi cảnh lậu. Ðây gọi là hành gần.

Hoặc do so sánh hành nầy với hành kia, nên được gọi là hành xa hành gần.

THỨC UẨN (Viññānakkhandho)

[26] Ở ÐÂY THẾ NÀO LÀ THỨC UẨN?

Bất cứ thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, bên trong hoặc bên ngoài, thô hoặc tế, xấu hoặc tốt, xa hoặc gần, mà gom chung, tổng kết lại. Ðây gọi là thức uẩn.

[27] Ở ÐÂY, THỨC QUÁ KHỨ[40] LÀ THẾ NÀO?

Thức nào đã qua, đã tiêu diệt, đã lìa mất, đã biến chuyển, đã biên diệt, đã biến hoại, đã sanh rồi diệt, đã vượt khỏi, gom lại thành phần quá khứ, tức là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Ðây gọi là thức quá khứ.

Ở ÐÂY THỨC VỊ LAI[41] LÀ THẾ NÀO?

Thức nào chưa sanh, chưa có, chưa thành, chưa xuất hiện, chưa phát khởi, chưa hiện khởi, chưa sanh khởi, chưa tương sanh, chưa dậy khởi, chưa ứng khởi, chưa xẩy đến, gom lại thành phần vị lai, tức là nhãn thức… (trùng)… ý thức. Ðây gọi là thức vị lai.

Ở ÐÂY, THỨC HIỆN TẠI[42] LÀ THẾ NÀO?

Thức nào đang sanh, đang có, đang thành, đang xuất hiện, đang hiện khởi, đang phát khởi, đang sanh khởi, đang tương sanh, đang dậy khởi, đang ứng khởi, đang sanh tồn, gom lại thành phần hiện tại; tức là nhãn thức… (trùng)… ý thức. Ðây gọi là thức hiện tại.

[28] Ở ÐÂY THỨC BÊN TRONG[43] LÀ THẾ NÀO?

Thức nào thuộc bên trong của mỗi chúng sanh, thuộc phần riêng, thuộc tư hữu, thuộc cá nhân, thành do thủ; tức là nhãn thức… (trùng)… ý thức. Ðây gọi là thức bên trong.

Ở ÐÂY THỨC BÊN NGOÀI[44] LÀ THẾ NÀO?

Thức nào thuộc bên trong của các chúng sanh khác, nhân vật khác, thuộc phần riêng, thuộc tư hữu, thuộc cá nhân, thành do thủ tức là từ nhãn thức… (trùng)… ý thức. Ðây gọi là thức bên ngoài.

[29] Ở ÐÂY THỨC THÔ THỨC TẾ[45] LÀ THẾ NÀO?

Thức bất thiện là  thô, thức thiện và vô ký là tế; thức thiện và bất thiện là thô, thức vô ký là tế; thức tương ưng thọ khổ là thô, thức tương ưng thọ lạc và phi khổ lạc là tế; thức tương ưng thọ lạc và khổ là thô, thức tương ưng thọ phi khổ phi lạc là tế; thức của người không nhập thiền là thô, thức của người nhập thiền là tế; thức cảnh lậu là thô, thức phi cảnh lậu là tế; hoặc do so sánh thức nầy thức kia mà được nhận là thức thô thức tế.

[30] Ở ÐÂY, THỨC XẤU THỨC TỐT[46] LÀ THẾ NÀO?

Thức bất thiện là xấu, thức thiện và vô ký là tốt; thức thiện và bất thiện là xấu, thức vô ký là tốt; thức tương ưng thọ khổ là xấu, thức tương ưng thọ lạc và phi khổ phi lạc là tốt; thức tương ưng thọ lạc là khổ là xấu, thức tương ưng thọ phi khổ phi lạc là tốt; thức của người không nhập thiền là xấu, thức của người nhập thiền là tốt; thức cảnh lậu là xấu, thức phi cảnh lậu là tốt; hoặc so sánh thức nầy thức kia mà được nhận là thức xấu thức tốt.

[31] Ở ÐÂY THỨC XA[47] LÀ THẾ NÀO?

Thức bất thiện xa với thức thiện và vô ký; thức thiện và vô ký xa với thức bất thiện; thức thiện xa với thức bất thiện và vô ký; thức bất thiện và vô ký xa với thức thiện; thức vô ký xa với thức thiện và bất thiện; thức thiện và bất thiện xa với thức vô ký; thức tương ưng thọ khổ xa với thức tương ưng thọ lạc và phi khổ phi lạc; thức tương ưng thọ lạc và phi khổ phi lạc xa với thức tương ưng thọ khổ; thức tương ưng thọ lạc xa với thức tương ưng thọ khổ và phi khổ phi lạc; thức tương ưng thọ khổ và phi khổ phi lạc xa với thức tương ưng thọ lạc; thức tương ưng thọ phi khổ phi lạc xa với thức tương ưng thọ lạc và khổ; thức tương ưng thọ lạc và thọ khổ xa với thức tương ưng thọ phi khổ phi lạc; thức của người không nhập thiền xa với thức của người nhập thiền, thức của người nhập thiền xa với thức của người không nhập thiền, thức cảnh lậu xa với thức phi cảnh lậu; thức phi cảnh lậu xa với thức cảnh lậu. Ðây được gọi là thức xa.

Ở ÐÂY, THỨC GẦN[48] LÀ THẾ NÀO?

Thức bất thiện gần với thức bất thiện; thức thiện gần với thức thiện; thức vô ký gần với thức vô ký; thức tương ưng thọ khổ gần với thức tương ưng thọ khổ; thức tương ưng thọ lạc gần với thức tương ưng thọ lạc; thức tương ưng thọ phi khổ phi lạc gần với thức tương ưng thọ phi khổ phi lạc, thức của người không nhập thiền gần với thức của người không nhập thiền, thức của người nhập thiền gần với thức của người nhập thiền, thức cảnh lậu gần với thức cảnh lậu; thức phi cảnh lậu gần với thức phi cảnh lậu. Ðây gọi là thức gần.

Hoặc do so sánh thức nầy với thức kia, nên được gọi là thức xa thức gần.

DỨT PHẦN PHÂN TÍCH THEO KINH

PHÂN TÍCH THEO VI DIỆU PHÁP
(ABHIDHAMMABHĀJANĪYA)

[32] Ngũ uẩn là sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn.

SẮC UẨN (Rūpakkhandho)

Ở ÐÂY THẾ NÀO LÀ SẮC UẨN?

[33] Sắc uẩn phân theo một loại: Tất cả sắc là phi nhân, là vô nhân, là bất tương ưng nhân, là hữu duyên, là hữu vi, là thể hoại, là hiệp thế, là cảnh lậu, là cảnh triền, là cảnh phược, là cảnh bộc, là cảnh phối, là cảnh cái, là cảnh khinh thị, là cảnh thủ, là cảnh phiền não, là vô ký, là bất tri cảnh, là phi sở hữu tâm, là bất tương ưng tâm, là phi dị thục phi dị thục nhân, là phi phiền toái cảnh phiền não, là phi hữu tầm hữu tứ, là phi vô tầm hữu tứ, là phi vô tầm vô tứ, là phi câu hành hỷ, là phi câu hành lạc, là phi câu hành xả, là phi kiến đạo phi tiến đạo ưng trừ, là phi hữu nhân kiến đạo tiến đạo ưng trừ, là phi nhân đến tích tập, phi nhân đến tịch diệt, là phi hữu học phi vô học, là hy thiểu, là dục giới, là phi sắc giới, là phi vô sắc giới, là hệ thuộc, là bất định, là phi dẫn xuất, là hiện sanh, là được sáu thức ứng tri, là vô thường bị già chi phối. Sắc uẩn phân theo một loại là như vậy.

[34] SẮC UẨN PHÂN THEO HAI LOẠI:

– Có sắc thủ, có sắc phi thủ.

– Có sắc do thủ, có sắc phi do thủ.

– Có sắc do thủ cảnh thủ, có sắc phi do thủ cảnh thủ.

– Có sắc hữu kiến, có sắc vô kiến.

– Có sắc hữu đối chiếu, có sắc vô đối chiếu.

– Có sắc quyền, Có sắc phi quyền.

– Có sắc đại hiển, Có sắc phi đại hiển.

– Có sắc biểu tri, Có sắc phi biểu tri.

– Có sắc do tâm sở sanh, Có sắc phi do tâm sở sanh.

– Có sắc đồng hiện hữu với tâm, Có sắc phi đồng hiện hữu với tâm.

– Có sắc tùy chuyển với tâm, Có sắc phi tùy chuyển với tâm.

– Có sắc nội phần, Có sắc ngoại phần.

– Có sắc thô, Có sắc tế.

– Có sắc viễn, Có sắc cận…(trùng)… Có sắc đoàn thực, Có sắc phi đoàn thực.

Sắc uẩn phân theo hai loại là như vậy.

[35] SẮC UẨN PHÂN THEO BA LOẠI:

– Sắc nào là sắc nội phần ấy là sắc y sinh; Sắc nào là sắc ngoại phần ấy có sắc y sinh, có sắc phi y sinh.

– Sắc nào là sắc nội phần ấy là sắc do thủ, Sắc nào là sắc ngoại phần ấy có sắc do thủ, có sắc phi do thủ.

– Sắc nào là sắc nội phần ấy là sắc do thủ cảnh; Sắc nào là sắc ngoại phần ấy có sắc do thủ cảnh thủ, có sắc phi do thủ cảnh thủ…(trùng)…

– Sắc nào là sắc nội phần ấy là sắc đoàn thực; Sắc nào là sắc ngoại phần ấy có sắc đoàn thực, có sắc phi đoàn thực.

Sắc uẩn phân theo ba loại là như vậy.

[36] SẮC UẨN PHÂN THEO BỐN LOẠI:

– Sắc nào là sắc y sinh, sắc ấy có sắc do thủ có sắc phi do thủ; Sắc nào là sắc phi y sinh, sắc ấy có sắc do thủ có sắc phi do thủ.

– Sắc nào là sắc y sinh, sắc ấy có sắc do thủ, cảnh thủ, có sắc phi do thủ cảnh thủ; Sắc nào là sắc phi y sinh, sắc ấy có sắc do thủ cảnh thủ, có sắc phi do thủ cảnh thủ.

– Sắc nào là sắc y sinh, sắc ấy có sắc hữu đối chiếu, có sắc vô đối chiếu, Sắc nào là sắc phi y sinh, sắc ấy có sắc hữu đối chiếu, có sắc vô đối chiếu.

– Sắc nào là sắc y sinh, sắc ấy có sắc thô, có sắc tế; Sắc nào là sắc phi y sinh, sắc ấy có sắc thô, có sắc tế.

– Sắc nào là sắc y sinh, sắc ấy có sắc viễn, có sắc cận; Sắc nào là sắc phi y sinh, sắc ấy có sắc viễn, có sắc cận…(trùng )…

– Sắc thấy được sắc nghe được, sắc cảm được, sắc biết được.

Sắc uẩn phân theo bốn loại là như vậy.

[37] SẮC UẨN PHÂN THEO NĂM LOẠI:

– Ðiạ giới, hỏa giới, thủy giới, phong giới và sắc y sinh.

Sắc uẩn phân theo năm loại là như vậy.

[38] SẮC UẨN PHÂN THEO SÁU LOẠI

– Sắc nhãn ứng tri, sắc nhĩ ứng tri, sắc tỷ  ứng tri, sắc thiệt ứng tri, sắc thân ứng tri, sắc ý ứng tri[49].

Sắc uẩn phân theo sáu loại là như vậy.

[39] SẮC UẨN PHÂN THEO BẢY LOẠI

– Sắc nhãn ứng tri… (trùng)… sắc ý giới ứng tri, sắc ý thức giới ứng tri.

Sắc uẩn phân theo bảy loại là như vậy.

[40] SẮC UẨN PHÂN THEO TÁM LOẠI

– Sắc nhãn ứng tri…(trùng)… sắc thân ứng tri có xúc lạc, có xúc khổ, sắc ý giới ứng tri, sắc ý thức giới ứng tri.

Sắc uẩn phân theo tám loại là như vậy.

[41] SẮC UẨN PHÂN THEO CHÍN LOẠI

-Nhãn quyền[50], nhĩ quyền, tỷ  quyền, thiệt quyền, thân quyền, nữ quyền, nam quyền, mạng quyền và sắc phi quyền.

Sắc uẩn phân theo chín loại là như vậy.

[42] SẮC UẨN PHÂN THEO MƯỜI LOẠI

– Nhãn quyền …(trùng)… mạng quyền, sắc phi quyền có loại hữu đối chiếu[51], có loại vô đối chiếu.

Sắc uẩn phân theo mười loại là như vậy.

[43] SẮC UẨN PHÂN THEO MƯỜI MỘT LOẠI:

– Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ  xứ, thiệt xứ, thân xứ, sắc xứ, thinh xứ, khí xứ, vị xứ, xúc xứ, và sắc vô kiến vô đối chiếu liên quan pháp xứ.

Sắc uẩn phân theo mười một loại là như vậy.

ÐÂY GỌI LÀ SẮC UẨN

THỌ UẨN (Vedanākkhandho)

Ở ÐÂY THẾ NÀO LÀ THỌ UẨN?

[44] Thọ uẩn phân theo một loại: Thọ tương ưng xúc.

– Thọ uẩn phân theo hai loại: Có thọ hữu nhân, có thọ vô nhân.

– Thọ uẩn phân theo ba loại: Có thọ thiện, có thọ bất thiện, có thọ vô ký.

– Thọ uẩn phân theo bốn loại: Có thọ dục giới, có thọ sắc giới, có thọ vô sắc giới, có thọ phi hệ thuộc.

– Thọ uẩn phân theo năm loại: Có thọ lạc quyền, có thọ khổ quyền, có thọ hỷ quyền, có thọ ưu quyền, có thọ xả quyền.

– Thọ uẩn phân theo sáu loại: Thọ sanh từ nhãn xúc, thọ sanh từ nhĩ xúc, thọ sanh từ tỷ  xúc, thọ sanh từ thiệt xúc, thọ sanh từ thân xúc, thọ sanh từ ý xúc.

Thọ uẩn phân theo sáu loại là như vậy.

– Thọ uẩn phân theo bảy loại: Thọ sanh từ nhãn xúc …(trùng)… thọ sanh từ thân xúc, thọ sanh từ ý giới xúc, thọ sanh từ ý thức giới xúc.

Thọ uẩn phân theo bảy loại là như vậy.

– Thọ uẩn phân theo tám loại: Thọ sanh từ nhãn xúc …(trùng)… thọ sanh từ thân xúc có lạc, có khổ, thọ sanh từ ý giới xúc, thọ sanh từ ý thức giới xúc.

Thọ uẩn phân theo tám loại là như vậy.

– Thọ uẩn phân theo chín loại: Thọ sanh từ nhãn xúc …(trùng)… thọ sanh từ thân xúc, thọ sanh từ ý giới xúc, thọ sanh từ ý thức giới xúc có thiện, có bất thiện, có vô ký.

Thọ uẩn phân theo chín loại là như vậy.

– Thọ uẩn phân theo mười loại: Thọ sanh từ nhãn xúc …(trùng)… thọ sanh từ thân xúc có lạc, có khổ, thọ sanh từ ý giới xúc, thọ sanh từ ý thức giới xúc có thiện, có bất thiện, có vô ký.

Thọ uẩn phân theo mười loại là như vậy.

[45] Thọ uẩn phân theo một loại: Thọ tương ưng xúc.

– Thọ uẩn phân theo hai loại: Có thọ hữu nhân, có thọ vô nhân.

– Thọ uẩn phân theo ba loại: Có thọ dị thục, có thọ dị thục nhân, Có thọ phi dị thục, phi dị thục nhân.

Có thọ do thủ cảnh thủ, Có thọ phi do thủ cảnh thủ, Có thọ phi do thủ phi cảnh thủ.

Có thọ phiền toái cảnh phiền não, Có thọ phi phiền toái cảnh phiền não, Có thọ phi phiền toái phi cảnh phiền não.

Có thọ hữu tầm hữu tứ, Có thọ vô tầm hữu tứ, có thọ vô tầm vô tứ.

Có thọ đáng do kiến đạo đoạn trừ[52], Có thọ đáng do tiến đạo đoạn trừ[53],Có thọ không đáng do kiến đạo đoạn trừ .

Có thọ hữu nhân đáng do kiến đạo đoạn trừ, Có thọ hữu nhân đáng do tiến đạo đoạn trừ, Có thọ hữu nhân đáng do kiến đạo tiến đạo đoạn trừ.

Có thọ nhân đến tích tập[54],có thọ nhân đến tịch diệt[55], có thọ phi nhân đến tích tập phi nhân đến tịch diệt.

Có thọ hữu học, có thọ vô học, Có thọ phi hữu học phi vô học.

Có thọ hy thiểu, có thọ đáo đại, có thọ vô lượng.

Có thọ biết cảnh hy thiểu, có thọ biết cảnh đáo đại, có thọ biết cảnh vô lượng.

Có thọ ty hạ, có thọ trung bình, có thọ tinh lương.

Có thọ cố định phần tà, có thọ cố định phần chánh, có thọ phi cố định.

Có thọ đạo thành cảnh, có thọ đạo thành nhân, có thọ đạo thành trưởng.

Có thọ sanh tồn, có thọ vị sanh tồn, có thọ chuẩn sanh.

Có thọ quá khứ, có thọ vị lai, có thọ hiện tại.

Có thọ biết cảnh quá khứ, có thọ biết cảnh vị lai, có thọ biết cảnh hiện tại.

Có thọ nội phần, có thọ ngoại phần, có thọ nội ngoại phần.

Có thọ biết cảnh nội phần, có thọ biết cảnh ngoại phần, có thọ biết cảnh nội ngoại… (trùng) ….

Thọ uẩn phân theo mười loại là như vậy.

PHẦN CĂN NHỊ ÐỀ (Dukamūlakaṃ)

[46] Thọ uẩn phân theo một loại: Thọ tương ưng xúc.

Thọ uẩn phân theo hai loại: Có thọ tương ưng nhân, Có thọ bất tương ưng nhân.

Có thọ phi nhân hữu nhân, Có thọ phi nhân vô nhân.

Có thọ hiệp thế, có thọ siêu thế.

Có thọ đáng vài tâm biết[56], Có thọ không đáng vài tâm biết[57]

Có thọ cảnh lậu, có thọ phi cảnh lậu.

Có thọ tương ưng lậu, có thọ bất tương ưng lậu.

Có thọ bất tương ưng lậu, Có thọ tương ưng lậu phi cảnh lậu.

Có thọ cảnh triền, có thọ phi cảnh triền.

Có thọ tương ưng triền, có thọ bất tương ưng triền.

Có thọ bất tương ưng triền cảnh triền, có thọ bất tương ưng triền phi cảnh triền.

Có thọ cảnh phược, có thọ phi cảnh phược.

Có thọ tương ưng phược, có thọ bất tương ưng phược.

Có thọ bất tương ưng phược cảnh phược, có thọ bất tương ưng phược phi cảnh phược.

Có thọ cảnh bộc, có thọ phi cảnh bộc.

Có thọ tương ưng bộc, có thọ bất tương ưng bộc.

Có thọ bất tương ưng bộc  cảnh bộc, có thọ bất tương ưng bộc phi cảnh bộc.

Có thọ cảnh phối, có thọ phi cảnh phối.

Có thọ tương ưng phối, có thọ bất tương ưng phối.

Có thọ bất tương ưng phối cảnh phối, có thọ bất tương ưng phối phi cảnh phối.

Có thọ cảnh cái, có thọ phi cảnh cái, có thọ tương ưng cái, có thọ bất tương ưng cái.

Có thọ tương ưng cái cảnh cái, có thọ bất tương ưng cái phi cảnh cái.

Có thọ cảnh khinh thị[58], có thọ phi cảnh khinh thị.

Có thọ tương ưng khinh thị, có thọ bất tương ưng khinh thị.

Có thọ bất tương ưng khinh thị cảnh khinh thị, có thọ bất tương ưng khinh thị phi cảnh khinh thị.

Có thọ do thủ, có thọ phi do thủ.

Có thọ cảnh thủ, có thọ phi cảnh thủ.

Có thọ tương ưng thủ, có thọ bất tương ưng thủ.

Có thọ bất tương ưng thủ cảnh thủ, có thọ bất tương ưng thủ phi cảnh thủ.

Có thọ cảnh phiền não, có thọ phi cảnh phiền não.

Có thọ phiền toái, có thọ phi phiền toái.

Có thọ tương ưng phiền não, có thọ bất tương ưng phiền não.

Có thọ bất tương ưng phiền não cảnh phiền não, có thọ bất tương ưng phiền não phi cảnh phiền não.

Có thọ đáng do kiến đạo đoạn trừ, có thọ không đáng do kiến đạo đoạn trừ.

Có thọ đáng do tiến đạo đoạn trừ, có thọ không đáng do tiến đạo đoạn trừ.

Có thọ hữu nhân đáng do kiến đạo đoạn trừ, có thọ phi hữu nhân đáng do kiến đạo đoạn trừ.

Có thọ hữu nhân đáng do tiến đạo đoạn trừ, có thọ phi hữu nhân đáng do tiến đạo đoạn trừ.

Có thọ hữu tầm, có thọ vô tầm.

Có thọ hữu tứ, có thọ vô tứ.

Có thọ hữu hỷ, có thọ vô hỷ.

Có thọ câu hành hỷ, có thọ phi câu hành hỷ.

Có thọ dục giới, có thọ phi dục giới.

Có thọ sắc giới, có thọ phi sắc giới.

Có thọ vô sắc giới, có thọ phi vô sắc giới.

Có thọ hệ thuộc[59], có thọ phi hệ thuộc.

Có thọ dẫn xuất[60], có thọ phi dẫn xuất.

Có thọ cố định[61], có thọ phi cố định.

Có thọ hữu thượng[62], có thọ vô thượng.

Có thọ hữu tranh[63], có thọ vô tranh.

– Thọ uẩn phân theo ba loại: Có thọ thiện, có thọ bất thiện, có thọ vô ký…(trùng)… Thọ uẩn phân theo mười loại là như vậy.

[47] Thọ uẩn phân theo một loại: Thọ tương ưng xúc.

– Thọ uẩn phân theo hai loại: Có thọ hữu tranh, có thọ vô tranh.

– Thọ uẩn phân theo ba loại: Có thọ dị thục, có thọ dị thục nhân, có thọ phi dị thục phi dị thục nhân… (trùng)… có thọ biết cảnh nội phần, có thọ biệt cảnh ngoại phần, có thọ biết cảnh nội ngoại phần…(trùng)…

Thọ uẩn phân theo mười loại là như vậy.

DỨT CĂN NHỊ ÐỀ

PHẦN CĂN TAM ÐỀ (Tikamūlakaṃ)

[48] Thọ uẩn phân theo một loại: Thọ tương ưng xúc.

Thọ uẩn phân theo hai loại: Có thọ hữu nhân có thọ vô nhân.

– Thọ uẩn phân theo ba loại: Có thọ thiện, có thọ bất thiện, có thọ vô ký… (trùng)… thọ uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Thọ uẩn phân theo một loại: Thọ tương ưng xúc.

– Thọ uẩn phân theo hai loại: Có thọ hữu tranh có thọ vô tranh.

– Thọ uẩn phân theo ba loại: Có thọ thiện, có thọ bất thiện, có thọ vô ký… (trùng)… thọ uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Thọ uẩn phân theo một loại: Thọ tương ưng xúc.

– Thọ uẩn phân theo hai loại: Có thọ hữu nhân có thọ vô nhân.

– Thọ uẩn phân theo ba loại: Có thọ dị thục, có thọ dị thục nhân, có thọ phi dị thục phi dị thục nhân… (trùng)… có thọ biết cảnh nội phần, có thọ biết cảnh ngoại phần, có thọ biết cảnh nội ngoại phần… (trùng)… Thọ uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Thọ uẩn phân theo một loại: Thọ tương ưng xúc.

– Thọ uẩn phân theo hai loại: Có thọ hữu tranh có thọ vô tranh.

– Thọ uẩn phân theo ba loại: Có thọ dị thục[64], có thọ dị thục nhân[65], có thọ phi dị thục phi dị thục nhân… (trùng)… có thọ biết cảnh nội phần, có thọ biết cảnh ngoại phần, có thọ biết cảnh nội ngoại phần… (trùng)… Thọ uẩn phân theo mười loại là như vậy.

DỨT CĂN TAM ÐỀ

PHẦN LƯỠNG LỢI (Ubhatovaddhakaṃ).

[49] Thọ uẩn phân theo một loại: Thọ tương ưng xúc.

– Thọ uẩn phân theo hai loại: Có thọ hữu nhân có thọ vô nhân.

– Thọ uẩn phân theo ba loại: Có thọ thiện, có thọ bất thiện, có thọ vô ký… (trùng)… thọ uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Thọ uẩn phân theo một loại: Thọ tương ưng xúc.

– Thọ uẩn phân theo hai loại: Có thọ tương ưng nhân, có thọ bất tươmg ưng nhân.

– Thọ uẩn phân theo ba loại: Có thọ dị thục, có thọ dị thục nhân, có thọ phi dị thục phi dị thục nhân… (trùng)… thọ uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Thọ uẩn phân theo một loại: Thọ tương ưng xúc.

– Thọ uẩn phân theo hai loại: Có thọ phi nhân hữu nhân, có thọ phi nhân vô nhân.

– Thọ uẩn phân theo ba loại: Có thọ do thủ cảnh thủ, có thọ phi do thủ cảnh thủ, có thọ phi do thủ phi cảnh thủ…(trùng)… thọ uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Thọ uẩn phân theo một loại: Thọ tương ưng xúc.

– Thọ uẩn phân theo hai loại: Có thọ hiệp thế, có thọ siêu thế.

– Thọ uẩn phân theo ba loại: Có thọ phiền toái cảnh phiền não, có thọ phi phiền toái cảnh phiền não, có thọ phi phiền toái phi cảnh phiền não…(trùng)… thọ uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Thọ uẩn phân theo một loại: Thọ tương ưng xúc.

– Thọ uẩn phân theo hai loại: Có thọ đáng vài tâm biết, có thọ không đáng vài tâm biết.

– Thọ uẩn phân theo ba loại: Có thọ hữu tầm hữu tứ, có thọ vô tầm hữu tứ, có thọ vô tầm vô tứ…(trùng)… thọ uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Thọ uẩn phân theo một loại: Thọ tương ưng xúc.

– Thọ uẩn phân theo hai loại: Có thọ cảnh lậu, có thọ phi cảnh lậu.

– Thọ uẩn phân theo ba loại: Có thọ đáng do kiến đạo đoạn trừ, có thọ đáng do tiến đạo đoạn trừ, có thọ không đáng do kiến đạo tiến đạo đoạn trừ…(trùng)… thọ uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Thọ uẩn phân theo một loại: Thọ tương ưng xúc.

– Thọ uẩn phân theo hai loại: Có thọ tương ưng lậu, có thọ bất tươmg ưng lậu.

– Thọ uẩn phân theo ba loại: Có thọ hữu nhân đáng do kiến đạo đoạn trừ, có thọ hữu nhân đáng do tiến đạo đoạn trừ, có thọ phi hữu nhân đáng do kiến đạo tiến đạo đoạn trừ…(trùng)… thọ uẩn phân theo mười loại là như vậy

– Thọ uẩn phân theo một loại: Thọ tương ưng xúc.

– Thọ uẩn phân theo hai loại: thọ bất tương ưng lậu cảnh lậu, có thọ bất tương ưng lậu phi cảnh lậu.

– Thọ uẩn phân theo ba loại: Có thọ nhân đến tích tập, có thọ nhân đến tịch diệt, có thọ phi nhân đến tích tập phi nhân đến tịch diệt…(trùng)… thọ uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Thọ uẩn phân theo một loại: Thọ tương ưng xúc.

– Thọ uẩn phân theo hai loại: Có thọ cảnh triền, có thọ phi cảnh triền.

– Thọ uẩn phân theo ba loại: Có thọ hữu học, có thọ vô học, có thọ phi hữu học phi vô học…(trùng)… thọ uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Thọ uẩn phân theo một loại: Thọ tương ưng xúc.

– Thọ uẩn phân theo hai loại: Có thọ tương ưng triền, có thọ bất tương ưng triền.

– Thọ uẩn phân theo ba loại: Có thọ hy thiểu, có thọ đáo đại, có thọ vô lượng…(trùng)… thọ uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Thọ uẩn phân theo một loại: Thọ tương ưng xúc.

– Thọ uẩn phân theo hai loại: Có thọ bất tương ưng triền cảnh triền, có thọ bất tương ưng triền phi cảnh triền.

– Thọ uẩn phân theo ba loại: Có thọ biết cảnh hy thiểu, có thọ biết cảnh đáo đại, có thọ biết cảnh vô lượng…(trùng)… thọ uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Thọ uẩn phân theo một loại: Thọ tương ưng xúc.

– Thọ uẩn phân theo hai loại: Có thọ cảnh phược, có thọ phi cảnh phược.

– Thọ uẩn phân theo ba loại: Có thọ ty hạ, có thọ trung bình, có thọ tinh lương…(trùng)… thọ uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Thọ uẩn phân theo một loại: Thọ tương ưng xúc.

– Thọ uẩn phân theo hai loại: Có thọ tương ưng phược, có thọ bất tương ưng phược.

– Thọ uẩn phân theo ba loại: Có thọ cố định phần tà, có thọ cố định phần chánh, có thọ phi cố định…(trùng)… thọ uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Thọ uẩn phân theo một loại: Thọ tương ưng xúc.

– Thọ uẩn phân theo hai loại: Có thọ bất tương ưng phược cảnh phược, có thọ bất tương ưng phược phi cảnh phược.

– Thọ uẩn phân theo ba loại: Có thọ đạo thành cảnh, có thọ đạo thành nhân, có thọ đạo thành trưởng…(trùng)… thọ uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Thọ uẩn phân theo một loại: Thọ tương ưng xúc.

– Thọ uẩn phân theo hai loại: Có thọ cảnh bộc, có thọ phi cảnh bộc.

– Thọ uẩn phân theo ba loại: Có thọ sanh tồn, có thọ vị sanh tồn, có thọ chuẩn sanh…(trùng)… thọ uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Thọ uẩn phân theo một loại: Thọ tương ưng xúc.

– Thọ uẩn phân theo hai loại: Có thọ tương ưng bộc, có thọ bất tương ưng bộc.

– Thọ uẩn phân theo ba loại: Có thọ quá khứ, có thọ vị lai, có thọ hiện tại…(trùng)… thọ uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Thọ uẩn phân theo một loại: Thọ tương ưng xúc.

– Thọ uẩn phân theo hai loại: Có thọ bất tương ưng bộc cảnh bộc, có thọ bất tương ưng bộc phi cảnh bộc.

– Thọ uẩn phân theo ba loại: Có thọ biết cảnh quá khứ, có thọ biết cảnh vị lai, có thọ biết cảnh hiện tại…(trùng)… thọ uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Thọ uẩn phân theo một loại: Thọ tương ưng xúc.

– Thọ uẩn phân theo hai loại: Có thọ cảnh phối, có thọ phi cảnh phối.

– Thọ uẩn phân theo ba loại: Có thọ nội phần, có thọ ngoại phần, có thọ nội ngoại phần…(trùng)… thọ uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Thọ uẩn phân theo một loại: Thọ tương ưng xúc.

– Thọ uẩn phân theo hai loại: Có thọ tương ưng phối, có thọ bất tương ưng phối.

– Thọ uẩn phân theo ba loại: Có thọ biết cảnh nội phần, có thọ biết cảnh ngoại phần, có thọ biết cảnh nội ngoại phần…(trùng)… thọ uẩn phân theo mười loại là như vậy.

DỨT PHẦN LƯỠNG LỢI

PHẦN PHÂN ÐA (Bahuvidhavāro)

[50] THỌ UẨN PHÂN THEO BẢY LOẠI: Có thọ thiện, có thọ bất thiện, có thọ vô ký, có thọ dục giới, có thọ sắc giới, có thọ vô sắc giới, có thọ phi hệ thuộc. Thọ uẩn phân theo bảy loại là như vậy.

Mặt khác, thọ uẩn phân theo bảy loại: Có thọ dị thục, có thọ dị thục nhân, có thọ phi dị thục phi dị thục nhân… (trùng)… có thọ biết cảnh nội phần, có thọ biết cảnh ngoại phần, có thọ biết cảnh nội ngoại phần, có thọ dục giới, có thọ sắc giới, có thọ vô sắc giới, có thọ phi hệ thuộc. Thọ uẩn phân theo bảy loại là như vậy.

[51] Thọ uẩn phân theo hai mươi bốn loại: Thọ uẩn do duyên nhãn xúc có thiện, có bất thiện, có vô ký, thọ uẩn do duyên nhĩ xúc… (trùng)… thọ uẩn do duyên tỷ xúc… (trùng)… thọ uẩn do duyên thiệt xúc… (trùng)… thọ uẩn do duyên thân xúc… (trùng)… thọ uẩn do duyên ý xúc có thiện, có bất thiện, có vô ký; thọ sanh từ nhãn xúc, thọ sanh từ nhĩ xúc, thọ sanh từ tỷ xúc, thọ sanh từ thiệt xúc, thọ sanh từ thân xúc, thọ sanh từ ý xúc. Thọ uẩn phân theo hai mươi bốn loại là như vậy.

Mặt khác, thọ uẩn phân theo hai mươi bốn loại: thọ uẩn do duyên nhãn xúc có dị thục, có dị thục nhân, có phi dị thục phi dị thục nhân… (trùng)… có biết cảnh nội phần, có biết cảnh ngoại phần, có biết cảnh nội ngoại phần, thọ uẩn do duyên nhĩ xúc… (trùng)… thọ uẩn do duyên tỷ xúc… (trùng)… thọ uẩn do duyên thiệt xúc… (trùng)… thọ uẩn do duyên thân xúc… (trùng)… thọ uẩn do duyên ý xúc có biết cảnh nội phần, có biết cảnh ngoại phần, có biết cảnh nội ngoại phần; thọ sanh từ nhãn xúc… (trùng)…, thọ sanh từ ý xúc. Thọ uẩn phân theo hai mươi bốn loại là như vậy.

[52] Thọ uẩn phân theo ba mươi loại: thọ uẩn do duyên nhãn xúc có dục giới, có sắc giới, có vô sắc giới, có phi hệ thuộc, thọ uẩn do duyên nhĩ xúc… (trùng)… thọ uẩn do duyên tỷ xúc… (trùng)… thọ uẩn do duyên thiệt xúc..(trùng)… thọ uẩn do duyên thân xúc… (trùng)… thọ uẩn do duyên ý xúc có dục giới, có sắc giới, có vô sắc giới; có phi hệ thuộc; thọ sanh từ nhãn xúc…(trùng)…, thọ sanh từ ý xúc… (trùng)… Thọ uẩn phân theo ba mươi loại là như vậy.

[53] Thọ uẩn phân thọ nhiều loại: thọ uẩn do duyên nhãn xúc có thiện, có bất thiện, có vô ký, có dục giới, có sắc giới, có vô sắc giới; có phi hệ thuộc; thọ uẩn do duyên nhĩ xúc …(trùng)… thọ uẩn do duyên tỷ xúc… (trùng)… thọ uẩn do duyên thiệt xúc… (trùng)… thọ uẩn do duyên thân xúc… (trùng)… thọ uẩn do duyên ý xúc có thiện, có bất thiện, có vô ký, có dục giới, có sắc giới, có vô sắc giới; có phi hệ thuộc; thọ sanh từ nhãn xúc… (trùng)…, thọ sanh từ ý xúc… (trùng)… Thọ uẩn phân theo nhiều loại là như vậy.

Mặt khác, thọ uẩn phân theo nhiều loại: thọ uẩn do duyên nhãn xúc có dị thục, có dị thục nhân, có phi dị thục phi dị thục nhân… (trùng)… có biết cảnh nội phần, có biết cảnh ngoại phần, có biết cảnh nội ngoại phần, có dục giới, có sắc giới, có vô sắc giới; có phi hệ thuộc; thọ uẩn do duyên nhĩ xúc… (trùng)… thọ uẩn do duyên tỷ xúc… (trùng)… thọ uẩn do duyên thiệt xúc… (trùng)… thọ uẩn do duyên thân xúc… (trùng)… thọ uẩn do duyên ý xúc có biết cảnh nội phần, có biết cảnh ngoại phần, có biết cảnh nội ngoại phần; có dục giới, có sắc giới, có vô sắc giới; có phi hệ thuộc; thọ sanh từ nhãn xúc… (trùng)…, thọ sanh từ ý xúc. Thọ uẩn phân theo nhiều loại là như vậy.

Ðây gọi là thọ uẩn.

DỨT PHẦN PHÂN ÐA

TƯỞNG UẨN (Sannākkhāndho)

Ở ÐÂY THẾ NÀO LÀ TƯỞNG UẨN?

[54] TƯỞNG UẨN PHÂN THEO MỘT LOẠI: Tưởng tương ưng xúc.

Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng hữu nhân, có tưởng vô nhân.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng thiện, có tưởng bất thiện, có tưởng vô ký.

– Tưởng uẩn phân theo bốn loại: Có tưởng dục giới, có tưởng sắc giới, có tưởng vô sắc giới; có tưởng phi hệ thuộc.

– Tưởng uẩn phân theo năm loại: Có tưởng tương ưng lạc quyền, có tưởng tương ưng khổ quyền, có tưởng tương ưng ưu quyền, có tưởng tương ưng hỷ quyền có tưởng tương ưng xả quyền.

– Tưởng phân theo sáu loại: Tưởng sanh từ nhãn xúc, tưởng sanh từ nhĩ xúc, tưởng sanh từ tỷ xúc, tưởng sanh từ thiệt xúc, tưởng sanh từ thân xúc, tưởng sanh từ ý xúc.

– Tưởng uẩn phân theo bảy loại: Tưởng sanh từ nhãn xúc… (trùng)… tưởng sanh từ thân xúc, tưởng sanh từ ý giới xúc, tưởng sanh từ ý thức giới xúc. Tưởng uẩn phân theo bảy loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo tám loại: Tưởng sanh từ nhãn xúc… (trùng)… tưởng sanh từ thân xúc có câu hành lạc[66], có câu hành khổ[67], tưởng sanh từ ý giới xúc, tưởng sanh từ ý thức giới xúc. Tưởng uẩn phân theo tám loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo chín loại: Tưởng sanh từ nhãn xúc… (trùng)… tưởng sanh từ thân xúc, tưởng sanh từ ý giới xúc, tưởng sanh từ ý thức giới xúc có thiện, có bất thiện, có vô ký. Tưởng uẩn phân theo chín loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo mười loại: Tưởng sanh từ nhãn xúc… (trùng)… tưởng sanh từ thân xúc có câu hành lạc, có câu hành khổ, tưởng sanh từ ý giới xúc, tưởng sanh từ ý thức giới xúc có thiện, có bất thiện, có vô ký. Tưởng uẩn phân theo mười loại là như thế.

[55] Tưởng uẩn phân theo một loại: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng hữu nhân, có tưởng vô nhân.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng tương ưng tưởng lạc, có tưởng tương ưng tưởng khổ, có tưởng tương ưng tưởng phi khổ phi lạc.

Có tưởng dị thục, có tưởng dị thục nhân, có tưởng phi dị thục, phi dị thục nhân.

Có tưởng do thủ cảnh thủ, có tưởng phi do thủ cảnh thủ, có tưởng phi do thủ phi cảnh thủ.

Có tưởng phiền toái cảnh phiền não, có tưởng phi phiền toái cảnh phiền não, có tưởng phi phiền toái phi cảnh phiền não.

Có tưởng hữu tầm hầm tứ, có tưởng vô tầm hữu tứ, có tưởng vô tầm vô tứ.

Có tưởng câu hành hỷ, có tưởng câu hành lạc, có tưởng câu hành xả.

Có tưởng đáng đo kiến đạo đoạn trừ, có tưởng đáng đo tiến đạo đoạn trừ, có tưởng không đáng đo kiến đạo tiến đạo đoạn trừ.

Có tưởng hữu nhân đáng do kiến đạo đoạn trừ, có tưởng hữu nhân đáng do tiến đạo đoạn trừ, có tưởng phi hữu nhân đáng do kiến đạo tiến đạo đoạn trừ.

Có tưởng là nhân đến tích tập, có tưởng là nhân đến tịch diệt, có tưởng là phi nhân đến tích tập phi nhân đến tịch diệt.

Có tưởng hữu học, có tưởng vô học, có tưởng phi hữu học phi vô học.

Có tưởng hy thiểu, có tưởng đáo đại, có tưởng vô lượng.

Có tưởng biết cảnh hy thiểu, có tưởng biết cảnh đáo đại, có tưởng biết cảnh vô lượng.

Có tưởng ty hạ, có tưởng trung bình, có tưởng tinh lương.

Có tưởng cố định phần tà, có tưởng cố định phần chánh, có tưởng phi cố định.

Có tưởng đạo thành cảnh, có tưởng đạo thành nhân, có tưởng đạo thành trưởng.

Có tưởng hiện sanh[68], có tưởng vị sanh tồn[69], có tưởng chuẩn sanh[70].

Có tưởng quá khứ, có tưởng vị lai, có tưởng hiện tại.

Có tưởng biết cảnh quá khứ, có tưởng biết cảnh vị lai, có tưởng biết cảnh hiện tại.

Có tưởng nội phần, có tưởng ngoại phần, có tưởng nội ngoại phần.

Có tưởng biết cảnh nội phần, có tưởng biết cảnh ngoại phần, có tưởng biết cảnh nội ngoại phần…(trùng) ….

Tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

PHẦN CĂN NHỊ ÐỀ (Dukamūlakaṃ)

[56] TƯỞNG UẨN PHÂN THEO MỘT LOẠI: Tưởng tương ưng xúc.

Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng tương ưng nhân, có tưởng bất tương ưng nhân.

Có tưởng phi nhân hữu nhân, có tưởng phi nhân vô nhân.

Có tưởng hiệp thế, có tưởng siêu thế.

Có tưởng đáng vài tâm biết, có tưởng không đáng vài tâm biết.

Có tưởng cảnh lậu, có tưởng phi cảnh lậu.

Có tưởng  bất tương ưng lậu cảnh lậu, có tưởng bất tương ưng lậu phi cảnh lậu.

Có tưởng cảnh triền, có tưởng phi cảnh triền.

Có tưởng tương ưng triền, có tưởng bất tương ưng triền.

Có tưởng bất tương ưng triền cảnh triền, có tưởng bất tương ưng triền phi cảnh triền.

Có tưởng cảnh phược, có tưởng phi cảnh phược.

Có tưởng tương ưng phược, có tưởng bất tương ưng phược.

Có tưởng bất tương ưng phược cảnh phược, có tưởng bất tương ưng phược phi cảnh phược.

Có tưởng cảnh bộc, có tưởng phi cảnh bộc.

Có tưởng tương ưng bộc, có tưởng bất tương ưng bộc.

Có tưởng bất tương ưng bộc cảnh bộc, có tưởng bất tương ưng bộc phi cảnh bộc.

Có tưởng cảnh phối, có tưởng phi cảnh phối.

Có tưởng tương ưng phối, có tưởng bất tương ưng phối.

Có tưởng bất tương ưng phối cảnh phối, có tưởng bất tương ưng phối phi cảnh phối.

Có tưởng cảnh cái, có tưởng phi cảnh cái.

Có tưởng tương ưng cái, có tưởng bất tương ưng cái.

Có tưởng bất tương ưng cái cảnh cái, có tưởng bất tương ưng cái phi cảnh cái.

Có tưởng cảnh khinh thị, có tưởng phi cảnh khinh thị.

Có tưởng tương ưng khinh thị, có tưởng bất tương ưng khinh thị.

Có tưởng bất tương ưng khinh thị cảnh khinh thị, có tưởng bất tương ưng khinh thị phi cảnh khinh thị.

Có tưởng do thủ, có tưởng phi do thủ.

Có tưởng cảnh thủ, có tưởng phi cảnh thủ.

Có tưởng tương ưng thủ, có tưởng bất tương ưng thủ.

Có tưởng bất tương ưng thủ cảnh thủ, có tưởng bất tương ưng thủ phi cảnh thủ.

Có tưởng cảnh phiền não, có tưởng phi cảnh phiền não.

Có tưởng phiền toái, có tưởng phi phiền toái.

Có tưởng tương ưng phiền não, có tưởng bất tương ưng phiền não.

Có tưởng tương ưng phiền não cảnh phiền não, có tưởng bất tương ưng phiền não phi cảnh phiền não.

Có tưởng đáng do kiến đạo đoạn trừ, có tưởng không đáng do kiến đạo đoạn trừ.

Có tưởng đáng do tiến đạo đoạn trừ, có tưởng không đáng do tiến đạo đoạn trừ.

Có tưởng hữu nhân đáng do kiến đạo đoạn trừ, có tưởng phi hữu nhân đáng do kiến đạo đoạn trừ.

Có tưởng hữu nhân đáng do tiến đạo đoạn trừ, có tưởng phi hữu nhân đáng do tiến đạo đoạn trừ.

Có tưởng hữu tầm, có tưởng vô tầm.

Có tưởng hữu tứ, có tưởng vô tứ.

Có tưởng hữu hỷ, có tưởng vô hỷ.

Có tưởng câu hành hỷ, có tưởng phi câu hành hỷ.

Có tưởng câu hành lạc, có tưởng phi câu hành lạc.

Có tưởng câu hành xả, có tưởng phi câu hành xả.

Có tưởng dục giới, có tưởng phi dục giới.

Có tưởng sắc giới, có tưởng phi sắc giới.

Có tưởng vô sắc giới, có tưởng phi vô sắc giới.

Có tưởng hệ thuộc, có tưởng phi hệ thuộc.

Có tưởng dẫn xuất, có tưởng phi dẫn xuất.

Có tưởng cố định, có tưởng phi cố định.

Có tưởng hữu thượng, có tưởng vô thượng.

Có tưởng hữu tranh, có tưởng vô tranh.

– TƯỞNG UẨN PHÂN THEO BA LOẠI: Có tưởng thiện, có tưởng bất thiện, có tưởng vô ký… (trùng)… Tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

[57] TƯỞNG UẨN PHÂN THEO MỘT LOẠI: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng hữu tranh, có tưởng vô tranh.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng tương ưng thọ lạc, có tưởng tương ưng thọ khổ, có tưởng tương ưng thọ phi khổ phi lạc… (trùng)… có tưởng biết cảnh nội phần, có tưởng biệt cảnh ngoại phần, có tưởng biết cảnh nội ngoại phần… (trùng)… Tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

DỨT PHẦN CĂN NHỊ ÐỀ

PHẦN CĂN TAM ÐỀ (Tikamūlakaṃ)

[58] TƯỞNG UẨN PHÂN THEO MỘT LOẠI: Tưởng tương ưng xúc.

Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng hữu nhân, có tưởng vô nhân.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng thiện, có tưởng bất thiện, có tưởng vô ký… (trùng)… tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo một loại: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng hữu tranh có tưởng vô tranh.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng thiện, có tưởng bất thiện, có tưởng vô ký… (trùng)… Tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo một loại: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng hữu nhân có tưởng vô nhân.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng tương ưng thọ lạc, có tưởng tương ưng thọ khổ, có tưởng tương ưng thọ phi khổ phi lạc… (trùng)… có tưởng biết cảnh nội phần, có tưởng biết cảnh ngoại phần, có tưởng biết cảnh nội ngoại phần… (trùng)… Tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo một loại: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng hữu tranh có tưởng vô tranh.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng tương ưng thọ lạc, có tưởng tương ưng thọ khổ, có tưởng tương ưng thọ phi khổ phi lạc… (trùng)… có tưởng biết cảnh nội phần, có tưởng biết cảnh ngoại phần, có tưởng biết cảnh nội ngoại phần… (trùng)… Tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

DỨT PHẦN CĂN TAM ÐỀ

PHẦN LƯỠNG LỢI (Ubhatovaddhakaṃ).

[59] TƯỞNG UẨN PHÂN THEO MỘT LOẠI: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng hữu nhân có tưởng vô nhân.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng thiện, có tưởng bất thiện, có tưởng vô ký…(trùng)… tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo một loại: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng tương ưng nhân, có tưởng bất tương ưng nhân.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng tương ưng thọ lạc, có tưởng tương ưng thọ khổ, có tưởng tương ưng thọ phi khổ phi lạc… (trùng)… Tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo một loại: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng phi nhân hữu nhân, có tưởng phi nhân vô nhân.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng dị thục, có tưởng dị thục nhân, có tưởng phi dị thục phi dị thục nhân… (trùng)… tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo một loại: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng hiệp thế, có tưởng siêu thế.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng do thủ cảnh thủ, có tưởng phi do thủ cảnh thủ, có tưởng phi do thủ phi cảnh thủ… (trùng)… Tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo một loại: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng đáng vài tâm biết, có tưởng không đáng vài tâm biết.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng phiền toái cảnh phiền não, có tưởng phi phiền toái cảnh phiền não, có tưởng phi phiền toái phi cảnh phiền não… (trùng)… Tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo một loại: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng đáng vài tâm biết, có tưởng không đáng vài tâm biết.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng phiền toái cảnh phiền não, có tưởng phi phiền toái cảnh phiền não, có tưởng phi phiền toái phi cảnh phiền não… (trùng) … Tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo một loại: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng cảnh lậu, có tưởng phi cảnh lậu.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng hữu tầm hữu tứ, có tưởng vô tầm hữu tứ, có tưởng vô tầm vô tứ… (trùng)… Tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo một loại: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng tương ưng lậu, có tưởng bất tương ưng lậu.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng câu hành hỷ, có tưởng câu hành lạc, có tưởng câu hành xả… (trùng)… tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo một loại: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng bất tương ưng lậu cảnh lậu, có tưởng bất tương ưng lậu phi cảnh lậu.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng đáng do kiến đạo đoạn trừ, có tưởng đáng do tiến đạo đoạn trừ, có tưởng đáng do kiến đạo tiến đạo đoạn trừ… (trùng)… Tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo một loại: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng cảnh triền, có tưởng phi cảnh triền.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng hữu nhân đáng do kiến đạo đoạn trừ, có tưởng hữu nhân đáng do tiến đạo đoạn trừ, có tưởng phi hữu nhân đáng do kiến đạo tiến đạo đoạn trừ… (trùng)… Tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo một loại: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng tương ưng triền, có tưởng bất tương ưng triền

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng nhân đến tích tập, có tưởng nhân đến tịch diệt, có tưởng phi nhân đến tích tập phi nhân đến tịch diệt … (trùng)…

Tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo một loại: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng  bất tương ưng triền cảnh triền, có tưởng bất tương ưng triền phi cảnh triền.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng hữu học, có tưởng vô học, có tưởng phi hữu học phi vô học… (trùng)… Tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo một loại: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng cảnh phược, có tưởng phi cảnh phược.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng hy thiểu, có tưởng đáo đại, có tưởng vô lượng… (trùng)… Tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo một loại: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng tương ưng phược, có tưởng bất tương ưng phược.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng biết cảnh hy thiểu, có tưởng biết cảnh đáo đại, có tưởng biết cảnh vô lượng… (trùng)… Tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo một loại: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng bất tương ưng phược cảnh phược, có tưởng bất tương ưng phược phi cảnh phược.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng ty hạ, có tưởng trung bình, có tưởng tinh lương… (trùng)… Tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo một loại: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng cảnh bộc, có tưởng phi cảnh bộc.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng cố định phần tà, có tưởng cố định phần chánh, có tưởng phi cố định… (trùng)… Tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo một loại: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng tương ưng bộc, có tưởng bất tương ưng bộc.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng đạo thành cảnh, có tưởng đạo thành nhân, có tưởng đạo thành trưởng… (trùng)… Tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo một loại: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng bất tương ưng bộc cảnh bộc, có tưởng bất tương ưng bộc phi cảnh bộc.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng hiện sanh, có tưởng vị sanh, có tưởng chuẩn sanh… (trùng)… Tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo một loại: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng cảnh phối, có tưởng phi cảnh phối.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng quá khứ, có tưởng vị lai, có tưởng hiện tại… (trùng)… Tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo một loại: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng tương ưng phối, có tưởng bất tương ưng phối.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng biết cảnh quá khứ, có tưởng biết cảnh vị lai, có tưởng biết cảnh hiện tại… (trùng)… Tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo một loại: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng tương ưng phối, có tưởng bất tương ưng phối.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng biết cảnh quá khứ, có tưởng biết cảnh vị lai, có tưởng biết cảnh hiện tại… (trùng)… Tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo một loại: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng bất tương ưng phối cảnh phối, có tưởng bất tương ưng phối phi cảnh phối.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng nội phần, có tưởng ngoại phần, có tưởng nội ngoại phần… (trùng)… Tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

– Tưởng uẩn phân theo một loại: Tưởng tương ưng xúc.

– Tưởng uẩn phân theo hai loại: Có tưởng cảnh cái, có tưởng phi cảnh cái.

– Tưởng uẩn phân theo ba loại: Có tưởng biết cảnh nội phần, có tưởng biết cảnh ngoại phần, có tưởng biết cảnh nội ngoại phần… (trùng)… Tưởng uẩn phân theo mười loại là như vậy.

DỨT PHẦN LƯỠNG LỢI

PHẦN PHÂN ÐA (Bahuvidhavāro)

[60] TƯỞNG UẨN PHÂN THEO BẢY LOẠI: Có tưởng thiện, có tưởng bất thiện, có tưởng vô ký, có tưởng dục giới, có tưởng sắc giới, có tưởng vô sắc giới, có tưởng phi hệ thuộc[71]. Tưởng uẩn phân theo bảy loại là như vậy.

Mặt khác, tưởng uẩn phân theo bảy loại: Có tưởng tương ưng thọ lạc, có tưởng tương ưng thọ khổ, có tưởng tương ưng phi khổ phi lạc… (trùng)… có tưởng biết cảnh nội phần, có tưởng biết cảnh ngoại phần, có tưởng biết cảnh nội ngoại phần, có tưởng dục giới, có tưởng sắc giới, có tưởng vô sắc giới, có tưởng phi hệ thuộc. Tưởng uẩn phân theo bảy loại là như vậy.

[61] TƯỞNG UẨN PHÂN THEO HAI MƯƠI BỐN LOẠI: Tưởng uẩn do duyên nhãn xúc có thiện, có bất thiện, có vô ký, tưởng uẩn do duyên nhĩ xúc … (trùng)… tưởng uẩn do duyên tỷ xúc… (trùng)… tưởng uẩn do duyên thiệt xúc… (trùng)… tưởng uẩn do duyên thân xúc…(trùng)… tưởng uẩn do duyên ý xúc có thiện, có bất thiện, có vô ký; tưởng sanh từ nhãn xúc, tưởng sanh từ nhĩ xúc, tưởng sanh từ tỷ xúc, tưởng sanh từ thiệt xúc, tưởng sanh từ thân xúc, tưởng sanh từ ý xúc. Tưởng uẩn phân theo hai mươi bốn loại là như vậy.

Mặt khác, tưởng uẩn phân theo hai mươi bốn loại: Tưởng uẩn do duyên nhãn xúc có tương ưng lạc thọ, có tương ưng khổ thọ, có tương ưng phi khổ phi lạc thọ … (trùng)… có biết cảnh nội phần, có biết cảnh ngoại phần, có biết cảnh nội ngoại phần, tưởng uẩn do duyên nhĩ xúc …(trùng)… tưởng uẩn do duyên tỷ xúc… (trùng)… tưởng uẩn do duyên thiệt xúc… (trùng)… tưởng uẩn do duyên thân xúc…(trùng)… tưởng uẩn do duyên ý xúc có biết cảnh nội phần, có biết cảnh ngoại phần, có biết cảnh nội ngoại phần; tưởng sanh từ nhãn xúc… (trùng)… tưởng sanh từ ý xúc. Tưởng uẩn phân theo hai mươi bốn loại là như vậy.

[62] TƯỞNG UẨN PHÂN THEO BA MƯƠI LOẠI: Tưởng uẩn do duyên nhãn xúc có dục giới, có sắc giới, có vô sắc giới, có phi hệ thuộc, tưởng uẩn do duyên nhĩ xúc… (trùng)… tưởng uẩn do duyên tỷ xúc… (trùng)… tưởng uẩn do duyên thiệt xúc… (trùng)… tưởng uẩn do duyên thân xúc… (trùng)… tưởng uẩn do duyên ý xúc có dục giới, có sắc giới, có vô sắc giới; có phi hệ thuộc; tưởng sanh từ nhãn xúc… (trùng)… tưởng sanh từ ý xúc… (trùng)… Tưởng uẩn phân theo ba mươi loại là như vậy.

[63] TƯỞNG UẨN PHÂN THEO NHIỀU LOẠI: Tưởng uẩn do duyên nhãn xúc có thiện, có bất thiện, có vô ký, có dục giới, có sắc giới, có vô sắc giới; có phi hệ thuộc; tưởng uẩn do duyên nhĩ xúc… (trùng)… tưởng uẩn do duyên tỷ xúc… (trùng)… tưởng uẩn do duyên thiệt xúc… (trùng)… tưởng uẩn do duyên thân xúc… (trùng)… tưởng uẩn do duyên ý xúc có thiện, có bất thiện, có vô ký, có dục giới, có sắc giới, có vô sắc giới; có phi hệ thuộc; tưởng uẩn sanh từ nhãn xúc… (trùng)… tưởng sanh từ ý xúc… (trùng)… Tưởng uẩn phân theo nhiều loại là như vậy.

Mặt khác, tưởng uẩn phân theo nhiều loại: Tưởng uẩn do duyên nhãn xúc có tuơng ưng thọ lạc, có tương ưng thọ khổ, có tương ưng thọ phi khổ phi lạc… (trùng) … có biết cảnh nội phần, có biết cảnh ngoại phần, có biết cảnh nội ngoại phần, có dục giới, có sắc giới, có vô sắc giới; có phi hệ thuộc; tưởng uẩn do duyên nhĩ xúc … (trùng)… tưởng uẩn do duyên tỷ xúc… (trùng)… tưởng uẩn do duyên thiệt xúc… (trùng)… tưởng uẩn do duyên thân xúc… (trùng)… tưởng uẩn do duyên ý xúc có biết cảnh nội phần, có biết cảnh ngoại phần, có biết cảnh nội ngoại phần; có dục giới, có sắc giới, có vô sắc giới; có phi hệ thuộc; tưởng sanh từ nhãn xúc… (trùng)… tưởng sanh từ ý xúc. Tưởng uẩn phân theo nhiều loại là như vậy.

Ðây gọi là tưởng uẩn

DỨT PHẦN ÐA

[1] Rūpakhandha.

[2] Atītarūpa.

[3] Anāgatarūpa.

[4] Paccuppannarūpa.

[5] Ajjhattarūpa.

[6] Bahiddhārūpa.

[7] Olārikarūpa.

[8] Sukhumarūpa.

[9] Hīnarūpa.

[10] Paṇītarūpa.

[11] Dūrerūpa.

[12] Santike rūpa.

[13] Atītavedanā.

[14] Anāgatavedanā.

[15] Paccupannavedanā.

[16] Ajjhattavedanā.

[17] Bahiddhāvedanā.

[18] Vedanā olārikā sukhumā.

[19] Vedanā hīnā panītā.

[20] Vedanā dūre.

[21] Vadanā santike.

[22] Saññā atītā.

[23] Sañña anāgatā.

[24] Sañña paccupannā.

[25] Sañña ajjhattā.

[26] Sañña bahiddhā.

[27] Sañña olātikā sukhumā.

[28] Sañña hīnā panītā.

[29] Sañña dūre.

[30] Sañña santike.

[31] Sankhārā atītā.

[32] Sankhāra anāgatā.

[33] Sankhāra paccuppannā.

[34] Sankhāra ajjhattā.

[35] Sankhāra bahiddhā

[36] Sankhāra olārikā sukhumā.

[37] Sankhāra hīnā panītā.

[38] Sankhāra dūre.

[39] Sankhāra santike.

[40] Vīnnānam atitam.

[41] Vīnnānam anāgatam.

[42] Vīnnānam paccuppannām.

[43] Vīnnānam ajjhattam.

[44] Vīnnānam bahiddhā.

[45] Vīnnānam clārikam sukhumam.

[46] Vīnnānam hīnam panitam.

[47] Vīnnānam durè.

[48] Vīnnānam santike.

[49] Ứng tri: Viññeyya, đáng bị biết bởi. Sắc nhãn ứng tri: cakkhuvinneyyam rūpam: Sắc đáng bị mắt thấy v.v…

[50] Quyền – Indriya; nhãn quyền (cakkhudriya): khả năng giới hạn của mắt v.v…

[51] Hữu đối chiếu – Sappatigha ; sắc có đối tượng.

[52] Do kiến đạo đoạn trừ – dassanena pahātabbā, là tưởng bất thiện mà đáng bị đoạn trừ bởi trí Sơ đạo hay Tu Ðà Hườn đạo.

[53] Do tiến đạo đoạn trừ – bhāvanāya pahātabbā, là tưởng bất thiện mà đáng bị đoạn trừ bởi trí Nhị đạo, Tam đạo và Tứ đạo.

[54] Tưởng trong bất thiện và thiện hiệp thế là nghiệp đưa đến quả luân hồi, nên gọi là tưởng đến tích tập (ācayagāmī vedana).

[55] Tưởng trong thiện siêu thế (đạo) là nhân đưa đến quả Níp Bàn, dứt luân hồi, nên gọi là tưởng nhân đến tịch diệt (apacayyagāmī vedanā)

[56] Kenaci vinneyo, là loại tưởng chỉ có một số tâm biết thôi, thí dụ: Tưởng siêu thế chỉ có tâm đổng lực dục giới hợp trí biết .v.v…

[57] Kenaci na vinneyo, là loại tưởng không được một số tâm biết. Thí dụ: Tưởng siêu thể, tâm bất thiện không biết được .v.v…

[58] Parāmattha – Cảnh khinh thị, là ám chỉ đối tượng của tà kiến. Parāmāsa (khinh thị) là tà kiến.

[59] Pariyāpanna, hệ thuộc, liên quan luân hồi,. Ở đây chỉ cho pháp hiệp thế.

[60] Niyyanika, dẫn xuất, đem khỏi luân hồi. Ở đây chỉ cho phép siêu thế.

[61] Niyata, pháp cố định, là tưởng trong tâm thiện hay bất thiện mà nhất định sanh quả.

[62] Sauttara, hữu thượng, pháp còn tương đối, còn có pháp cao hơn, tức là chỉ cho pháp hiệp thế.

[63] Sarana (sa + rana) , pháp có sự rối loạn, đấu tranh, nên gọi là pháp hữu tranh, tức là chỉ có bất thiện.

[64] Tưởng dị thục (vipākavedanā), tưởng uẩn thuộc tâm quả.

[65] Tưởng dị thục nhân (Vipākadhamma), tưởng uẩn thuộc pháp nhan, tức là tưởng trong tâm thiện và tâm bất thiện.

[66] Câu hành lạc – Sukhasahagata, tức là đồng sanh với lạc tưởng.

[67] Câu hành khổ – dhukkhasahagata, tức là đồng sanh với khổ tưởng.

[68] Uppanno – Hiện sanh, là tưởng uẩn hiệp trong 121 tâm đang sanh khởi.

[69] Anuppanno – Vị sanh, là tưởng uẩn sẽ sanh và cũng chưa chắc gì sanh ra, như là tưởng uẩn trong tâm thiện và tâm tố.

[70] Uppādi – Chuẩn sanh-, là tưởng uẩn sẵn sàng sanh ra, như là tưởng uẩn trong tâm quả, vì rằng đã có nhân tố.

[71] Tưởng phi hệ thuộc (apariyāpannā) là chỉ do Tưởng uẩn Siêu thế (lokuttara).

-ooOoo-

 

 

Dhamma Paññā

BQT trang Theravāda cố gắng sưu tầm thông tin tài liệu Dhamma trợ duyên quý độc giả tìm hiểu về Dhamma - Giáo Pháp Bậc Giác Ngộ thuyết giảng suốt 45 năm sau khi Ngài chứng đắc trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác vào đêm Rằm tháng 4, tìm hiểu thêm phương pháp thực hành thiền Anapana, thiền Vipassana qua các tài liệu, bài giảng, pháp thoại từ các Thiền Sư, các Bậc Trưởng Lão, Bậc Thiện Trí.