Thánh Nhân Ký Sự Ii – Phẩm Sālakusumiya

THÁNH NHÂN KÝ SỰ II

PHẨM SĀLAKUSUMIYA

461. Ký Sự về Trưởng Lão Sālakusumiya

  1. Khi đức Thế Tôn tên là Padumuttara viên tịch Niết Bàn và được đặt lên ở giàn hỏa thiêu, tôi đã cúng dường bông hoa sālā.
  2. (Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường lễ hỏa táng (đức Phật).
  3. Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch, tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận, tôi sống không còn lậu hoặc.
  4. Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
  5. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lão Sālakusumiya[47] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Ký sự về trưởng lão Sālakusumiya là phần thứ nhất.

 

–ooOoo–

 

462. Ký Sự về Trưởng Lão Citakapūjaka

  1. Khi đức Thế Tôn Sikhī, đấng quyến thuộc của thế gian đang được thiêu đốt, tôi đã dâng lên giàn hỏa thiêu của Ngài tám bông hoa campaka.
  2. (Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường giàn hỏa thiêu (đức Phật).
  3. Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
  4. Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
  5. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lão Citakapūjaka[48] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Ký sự về trưởng lão Citakapūjaka là phần thứ nhì.

–ooOoo–

463. Ký Sự về Trưởng Lão Citakanibbāpaka

  1. Khi nhục thân của bậc Đại Ẩn Sĩ Vessabhū đang được đốt cháy, tôi đã cầm lấy nước thơm và đã làm nguội giàn hỏa thiêu.
  2. (Kể từ khi) tôi đã làm nguội giàn hỏa thiêu trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của nước thơm.
  3. Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
  4. Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
  5. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lão Citakanibbāpaka[49] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Ký sự về trưởng lão Citakanibbāpaka là phần thứ ba.

–ooOoo–

464. Ký Sự về Trưởng Lão Setudāyaka

  1. Khi đức Thế Tôn Vipassī đang đi kinh hành ở trước mặt, với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã cho thực hiện cây cầu.
  2. (Kể từ khi) tôi đã cho thực hiện cây cầu trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng cây cầu.
  3. Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
  4. Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
  5. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lão Setudāyaka đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Ký sự về trưởng lão Setudāyaka là phần thứ tư.

–ooOoo–

465. Ký Sự về Trưởng Lão Sumanatālavaṇṭiya

  1. Tôi đã dâng cúng chiếc quạt được phủ lên bởi những bông hoa nhài đến đức Thế Tôn Siddhattha. Tôi nắm giữ danh vọng lớn lao.
  2. (Kể từ khi) tôi đã dâng cúng chiếc quạt trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của chiếc quạt.
  3. Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
  4. Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
  5. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lão Sumanatālavaṇṭiya[50] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Ký sự về trưởng lão Sumanatālavaṇṭiya là phần thứ năm.

–ooOoo–

466. Ký Sự về Trưởng Lão Avaṇṭaphaliya

  1. Đức Thế Tôn, đấng Tự Chủ, bậc không bị đánh bại tên là Sataraṃsī. Có ước muốn độc cư, đấng Toàn Giác đã ra đi về việc khất thực.
  2. Có trái cây ở tay, tôi đã nhìn thấy và đã đi đến gặp đấng Nhân Ngưu. Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã dâng cúng trái avaṇṭa.
  3. Trước đây chín mươi bốn kiếp, kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
  4. Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
  5. Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
  6. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lão Avaṇṭaphaliya[51] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Ký sự về trưởng lão Avaṇṭaphaliya là phần thứ sáu.

–ooOoo–

467. Ký Sự về Trưởng Lão Labujadāyaka

  1. Khi ấy, tôi đã là người phụ việc tu viện ở thành phố Bandhumatī. Tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm đang di chuyển ở trên không trung.
  2. Tôi đã cầm lấy trái mít và đã dâng cúng đến đức Phật tối thượng. Bậc có danh vọng lớn lao đã thọ lãnh trong khi đang đứng ở ngay trên không trung.
  3. Đối với tôi, Ngài là nguồn sanh lên niềm hạnh phúc đem lại sự an lạc trong thời hiện tại. Tôi đã dâng cúng trái cây đến đức Phật với tâm ý trong sạch.
  4. Khi ấy, tôi đã đạt đến niềm phỉ lạc vĩ đại và sự an lạc thù thắng. Và khi tôi tái sanh ở nơi này nơi khác, có châu báu hiện lên (cho tôi).
  5. Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
  6. Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
  7. Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
  8. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lão Labujadāyaka[52] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Ký sự về trưởng lão Labujadāyaka là phần thứ bảy.

–ooOoo—

468. Ký Sự về Trưởng Lão Pilakkhaphaladāyaka

  1. Sau khi nhìn thấy đức Phật Atthadassī, bậc có danh vọng lớn lao ở cuối rừng, với tâm tịnh tín với ý vui mừng tôi đã dâng lên trái của cây sung.
  2. Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây trước đây một ngàn tám trăm kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
  3. Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
  4. Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
  5. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lão Pilakkhaphaladāyaka[53] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Ký sự về trưởng lão Pilakkhaphaladāyaka là phần thứ tám.

–ooOoo–

469. Ký Sự về Trưởng Lão Sayampaṭibhāṇiya

  1. Ai là người nhìn thấy đấng Nhân Ngưu, vị Trời của chư Thiên, đang tiến bước ở trên đường tợ như cây kakudha đang chói sáng mà không tịnh tín?
  2. Ai là người nhìn thấy bậc đã xua đi điều tăm tối ấy, đã giúp cho nhiều người vượt qua, đang chói sáng với ánh sáng trí tuệ mà không tịnh tín?
  3. Ai là người nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian đang hướng dẫn một trăm ngàn vị có năng lực, đang tiếp độ nhiều chúng sanh mà không tịnh tín ?
  4. Ai là người nhìn thấy vị đang vỗ lên chiếc trống Giáo Pháp, đang chế ngự các nhóm ngoại đạo, đang gầm lên tiếng rống sư tử mà không tịnh tín?
  5. Cho đến các Phạm Thiên từ thế giới Phạm Thiên đã đi đến và hỏi các câu hỏi khôn khéo, ai là người nhìn thấy mà không tịnh tín?
  6. Thế gian luôn cả chư Thiên thể hiện sự chắp tay đối với Ngài rồi thỉnh cầu, nhờ Ngài họ thọ hưởng phước báu, ai là người nhìn thấy mà không tịnh tín?
  7. Tất cả mọi người tụ tập lại và thỉnh cầu bậc Hữu Nhãn, được yêu cầu Ngài không rung động, ai là người nhìn thấy mà không tịnh tín?
  8. Khi Ngài đang đi vào thành phố, có nhiều chiếc trống vang lên và các con voi hào hứng rống lên, ai là người nhìn thấy mà không tịnh tín?
  9. Trong khi đang đi ở đường lộ, toàn bộ hào quang của Ngài luôn luôn chiếu sáng, những chỗ bị gập ghềnh trở thành bằng phẳng, ai là người nhìn thấy mà không tịnh tín?
  10. Khi đức Phật đang nói, (lời Ngài) được nghe ở bầu vũ trụ, Ngài làm cho tất cả chúng sanh được hiểu rõ, ai là người nhìn thấy mà không tịnh tín?
  11. (Kể từ khi) tôi đã ngợi ca đức Phật trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc ca ngợi.
  12. Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
  13. Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
  14. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lão Sayampaṭibhāṇiya[54] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Ký sự về trưởng lão Sayampaṭibhāṇiya là phần thứ chín.

–ooOoo–

470. Ký Sự về Trưởng Lão Nimittavyākaraṇiya

  1. Khi ấy, tôi đã đi sâu vào núi Hi-mã-lạp rồi đọc tụng chú thuật. Năm mươi bốn ngàn người đệ tử đã phục vụ tôi.
  2. Là những vị hiểu biết về kinh Vệ-đà, tất cả đã học thuộc lòng, đã đạt đến sự toàn hảo về sáu chi phần. Được hỗ trợ bởi những sự hiểu biết của chính bản thân, các vị ấy sống ở núi Hi-mã-lạp.
  3. Sau khi mệnh chung từ tập thể cõi trời Đâu Suất, vị Thiên tử có danh vọng lớn lao đã sanh vào bụng mẹ với sự nhận biết và có niệm.
  4. Khi bậc Toàn Giác đang được sanh ra, mười ngàn thế giới đã chuyển động. Khi đấng Lãnh Đạo đang được sanh ra, những người mù đã đạt được thị giác.
  5. Toàn bộ quả đất này đã chuyển động với mọi hình thức. Sau khi nghe được tiếng gầm thét, đám đông dân chúng đã hoảng hốt.
  6. Tất cả mọi người đã tập trung lại và đã đi đến gặp tôi (hỏi rằng): “Quả đất này đã chuyển động, sẽ có hậu quả gì đây?
  7. Khi ấy, tôi đã nói với họ rằng: “Các người chớ sợ hãi, sự nguy hại không có cho các người. Tất cả cũng nên tự tin, sự xuất hiện này là có điều tốt đẹp.
  8. Bị tác động bởi tám nguyên nhân, quả đất này chuyển động. Các điều báo hiệu như thế này được nhìn thấy, có ánh sáng bao la vĩ đại.
  9. Không còn nghi ngờ nữa, đức Phật tối thượng, bậc Hữu Nhãn sẽ hiện khởi.” Sau khi làm cho dân chúng biết rõ, tôi đã thuyết giảng về năm giới cấm.
  10. Sau khi lắng nghe về năm giới cấm và về sự xuất hiện của đức Phật là điều hy hữu, họ đã trở nên hớn hở vui mừng với niềm phấn khởi đã được sanh lên, với tâm ý vui mừng.
  11. (Kể từ khi) tôi đã giải thích về điềm báo hiệu trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc giải thích.
  12. Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
  13. Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
  14. Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.

Đại đức trưởng lão Nimittavyākaraṇiya[55] đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.

Ký sự về trưởng lão Nimittavyākaraṇiya là phần thứ mười.

–ooOoo–

Phần Tóm Lược

Vị trưởng lão liên quan đến bông hoa sālā, luôn cả vị cúng dường (giàn hỏa thiêu), và vị làm nguội (giàn hỏa thiêu), vị dâng cúng cây cầu, vị có cây quạt, (vị dâng lên) trái avaṇṭa, vị dâng lên trái mít, (vị dâng lên) trái sung, vị ca ngợi, và vị Bà-la-môn liên quan việc giải thích. Có bảy mươi hai câu kệ đã được tính đếm bởi các bậc trí.

Phẩm Sālakusumiya là phẩm thứ bốn mươi bảy.

–ooOoo–

[1] Vị này đã bị con trăn giết chết và đã được sanh lên cõi trời liền tức thì.

[2] Sakiṃsammajjaka nghĩa là “vị một lần (sakiṃ) quét tước (sammajjaka).”

[3] Ký sự này tương tợ như  ký sự 334, Apadāna – Thánh Nhân Ký Sự, tập I (Tam Tạng Pāḷi – Việt tập 39).

[4] Ekadussadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) một (eka) tấm vải (dussa).” 

[5] Ekāsanadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) một (eka) chỗ ngồi (āsana).” 

[6] Sattakadambapupphiya nghĩa là “vị liên quan đến bảy (satta) bông hoa (puppha) kadamba.”

[7] Koraṇḍapupphiya nghĩa là “vị liên quan đến bông hoa (puppha) koraṇḍa.”

[8] Ghatamaṇḍadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) bơ lỏng (ghata) nguyên chất (maṇḍa).”

[9] Ký sự này tương tợ ký sự 339, Apadāna – Thánh Nhân Ký Sự, tập I (Tam Tạng Pāḷi – Việt tập 39).

[10] Ekadhammasavaṇiya nghĩa là “vị liên quan đến việc một lần (eka) lắng nghe (savaṇa) Giáo Pháp (dhamma).”

[11] Sucintita nghĩa là “vị đã suy nghĩ (cintita) khéo léo (su).”

[12] Sovaṇṇakiṅkaṇiya nghĩa là “vị liên quan đến bông hoa kiṅkaṇī bằng vàng (sovaṇṇa).”

[13] Soṇṇakontarika nghĩa là “vị có liên quan đến cây gậy (konta) bằng vàng (soṇṇa).”

[14] Ekavihāriya nghĩa là “vị liên quan đến sự cư ngụ (vihāra) một mình (eka).”

[15] Vị ấy bị té chết và được sanh lên cõi trời ngay khi ấy.

[16] Ekasaṅkhiya nghĩa là “vị liên quan đến một lần (eka) thổi chiếc chiếc tù và vỏ ốc (saṅkha).”

[17] Pāṭihīrasaññaka nghĩa là “vị tưởng nhớ (saññaka) đến điều kỳ diệu (pāṭihīra).”

[18] Ñāṇatthavika nghĩa là “vị ngợi ca (thavika) trí tuệ (ñāṇa) của đức Phật.”

[19] Ucchukhaṇḍika nghĩa là “vị liên quan đến khúc (khaṇḍa) mía (ucchu).”

[20] Kalambadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) bông hoa kalamba.” 

[21] Ambāṭakadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) trái cây ambāṭaka.” 

[22] Harītakadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) trái cây harītaka.” 

[23] Vị ấy đã chết đi sanh lên cõi trời Đẩu Suất (ND).

[24] Ambapiṇḍiya nghĩa là “vị liên quan đến chùm (piṇḍa) trái xoài (amba).”

[25] Jambuphaliya nghĩa là “vị liên quan đến trái cây (phala) mận đỏ (jambu).”

[26] vibhīṭakamiñjiya nghĩa là “vị liên quan đến phần ruột (miñja) của trái cây vibhīṭaka.”

[27] Koladāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) trái táo (kola).”

[28] Billaphaliya nghĩa là “vị liên quan đến trái cây (phala) có tên là billa.”

[29] Bhallātakadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) trái cây bhallātaka.”

[30] Uttalipupphiya nghĩa là “vị có liên quan đến bông hoa (puppha) uttalī.”

[31] Ambāṭakiya nghĩa là “vị liên quan đến bông hoa ambāṭaka.”

[32] Sīhāsanika nghĩa là “vị liên quan đến bảo tọa (āsana) sư tử (sīha),” là chỗ ngồi ở cội cây Bồ Đề (bodhiyā āsanaṃ) và trên chỗ ngồi đó đức Phật đã chứng quả vị Giác Ngộ (ND).

[33] Pādapīṭhiya nghĩa là “vị liên quan đến cái ghế (pīṭha) kê chân (pāda).”

[34] Vedikāraka nghĩa là “vị thực hiện (kāraka) cái viền rào (vedi, vedikā).”

[35] Bodhighariya nghĩa là “vị liên quan đến căn nhà (ghara) ở cội cây Bồ Đề (bodhi).”

[36] Jagatidāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) nền đất (jagati) ở cội cây Bồ Đề.”

[37] Ba ngọn lửa là lửa tham, lửa sân, và lửa si (ND).

[38] Morahatthiya nghĩa là “vị liên quan đến cái cánh (hattha) của chim công (mora),” diễn dịch là cánh quạt lông công (ND).

[39] Sīhāsanavījaka nghĩa là “vị quạt mát (vījaka) bảo tọa sư tử (sīhāsana).”

[40] Ti-ukkādhāraka nghĩa là “vị cầm (dhāraka) ba (ti) ngọn đuốc (ukkā).”

[41] Akkamanadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) tấm lót chân (akkamana).”

[42] Vanakoraṇḍiya nghĩa là “vị liên quan đến bông hoa koraṇḍa rừng (vana).”

[43] Ekachattiya nghĩa là “vị liên quan đến một (eka) chiếc lọng che (chatta).”

[44] Jātipupphiya nghĩa là “vị liên quan đến bông hoa (puppha) jāti.”

[45] Paṭṭipupphiya nghĩa là “vị liên quan đến bông hoa (puppha) paṭṭi.”

[46] Gandhapūjaka nghĩa là “vị cúng dường (pūjaka) vật thơm (gandha).”

[47] Sālakusumiya nghĩa là “vị liên quan đến bông hoa (kusuma) sālā.”

[48] Citakapūjaka nghĩa là “vị cúng dường (pūjaka) giàn hỏa thiêu (citaka).”

[49] Citakanibbāpaka nghĩa là vị làm nguội (nibbāpaka) giàn hỏa thiêu (citaka).”

[50] Sumanatālavaṇṭiya nghĩa là “vị liên quan đến chiếc quạt (tālavaṇṭa) được gắn hoa lài (sumanā).”

[51] Avaṇṭaphaliya nghĩa là “vị liên quan đến trái cây (phala) avaṇṭa.”

[52] Labujadāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (labuja) trái mít (dāyaka).”

[53] Pilakkhaphaladāyaka nghĩa là “vị dâng cúng (dāyaka) trái cây (phala) của cây sung (pilakkha).”

[54] Sayampaṭibhāṇiya nghĩa là “vị liên quan đến việc đích thân mình (sayaṃ) ca ngợi (paṭibhāṇa).”

[55] Nimittavyākaraṇiya nghĩa là “vị liên quan đến việc giải thích (vyākaraṇa) các điềm báo hiệu (nimitta).”

—-

Bài viết trích từ cuốn “Kinh Điển Tam Tạng – Tiểu Bộ – Thánh Nhân Ký Sự Tập II“, Tỳ-khưu Indacanda Dịch Việt
* Link tải sách ebook: “Kinh Điển Tam Tạng – Tiểu Bộ – Thánh Nhân Ký Sự Tập II” ebook
* Link thư mục ebook: Sách Tỳ-khưu Indacanda
* Link tải app mobile: Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda